1. Forum VietMBA đã được nâng cấp lên version mới. Mọi thông tin, báo lỗi và góp ý xin vui lòng post tại topic ⚠ Thông báo nâng cấp forum và danh sách các vấn đề phát sinh.

"Sự tử tế" & " Hà Nội trong mắt ai "

Discussion in 'Đọc báo giùm bạn' started by nvha, Apr 25, 2010.

  1. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
  2. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    NSND TRẦN VĂN THỦY: Một người tử tế

    NSND TRẦN VĂN THỦY: Một người tử tế (TT&VH) -

    Nếu ai đã từng xem Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế, và mới đây nhất là Mạn đàm về người man di hiện đại, sẽ hiểu NSND Trần Văn Thủy trăn trở như thế nào với từng số phận con người, với những giá trị thực đang dần mất.
    Thứ Hai, 24/05/2010 19:03

    http://thethaovanhoa.vn/133N2010052406167740T0/nsnd-tran-van-thuy-mot-nguoi-tu-te.htm


    1. NSND Trần Văn Thủy sống trong một ngõ nhỏ yên tĩnh trên đường Hoàng Hoa Thám - Hà Nội, nhưng nơi cư ngụ lại là một ngôi nhà cao ráo và rộng rãi, cây trứng gà trước hiên nhà đã xum xuê tỏa bóng.

    Ông nói, ngôi nhà này được xây cất bằng chính tiền làm phim với nước ngoài của mình, sau bao nhiêu lận đận vất vả với phim trường trong nước. Bởi có dạo khó khăn và cô đơn quá, mẹ ông đã khóc: “Con ơi, sao cái nghề của con khổ thế”. Nhưng ông vẫn bền bỉ với con đường của mình. Mỗi khi tiếp khách, ông thường trọng thị thắp hương trước bàn thờ tổ tiên mình, như một thói quen, và cũng có thể như muốn phác một cử chỉ rằng, những điều chúng ta trao đổi với nhau đều là chân thành và tử tế.



    Nhìn lại những việc đã làm của đời mình, ông cho rằng có những việc lạ lùng, may mắn cứ như có thần linh giúp đỡ, phần lớn cũng đến bờ đến bến. Người đời thường nói, ăn ở thế nào đời sẽ trả lại cho mình như thế, nhưng soi chiếu vào những khuất tất trong lịch sử một cách sâu sắc, ông thấy không ít người có tài, có công thì số phận lại hẩm hiu. Ông có “ước mơ không tưởng” là làm sao để hậu thế không đi vào những vết xe đổ của quá khứ, làm thế nào hóa giải tất cả những lầm lẫn của chúng ta trong quá vãng, có như thế mới hóa giải hết những kết uất, để mọi con dân nước Việt được yêu thương đất nước này một cách ngang bằng.

    Thời gian Trần Văn Thủy làm việc tại Hãng phim Tài liệu là quãng đời thú vị nhất của ông. Là một người quê gốc Nam Định, ông “đọc” Hà Nội như tất cả những ai gia nhập vào Hà Nội. Chất lịch lãm đã ngấm sâu vào con người này, bởi cung cách nói chuyện nhỏ nhẹ, đôi khi để diễn đạt một điều gì đó từ sâu thẳm bên trong, ông lại đặt tay lên ngực trái của mình. Những gì tinh túy nhất sau một chuỗi dài quan sát, nghiền ngẫm, suy tư, dường như được ông rút ruột trong bộ đôi tác phẩm Chuyện tử tế và Hà Nội trong mắt ai.


    Chuyện tử tế (1985) kể về thân phận của những người nghèo khổ dưới đáy xã hội. Những người làm phim xông xáo vào đời và gặp lắm cảnh trái ngang: đến quay một lò gạch thì bị chủ lò gạch xua đuổi. Một đứa bé chăn vịt vì mệt, cần ngủ, lỡ để đàn vịt vào phá ruộng hợp tác xã mà phải mang lý lịch xấu. Một giáo viên toán phải đi bán rau. Những cựu chiến binh một thời oanh liệt nay người đạp xích lô, kẻ làm nghề sửa xe đạp. Một bà mẹ cùi hủi bị người đời khinh chê nhưng quyết chí đúc 18 vạn hòn gạch làm gia tài để lại cho đứa con trai. Đan xen giữa những mảnh đời là những suy nghĩ, nhận thức về sự tử tế... Những năm thời bao cấp, hai bộ phim này đã làm nên một điều chưa từng có: Chiếu rạp từ Nam ra Bắc trong một thời gian dài, người nối người chen nhau đi xem. Và kết quả thật không ngờ, Chuyện tử tế đã đưa tên tuổi đạo diễn Trần Văn Thủy vượt đại dương đến các nước xa xôi trên thế giới. Còn Trần Văn Thủy cũng đi vào lịch sử với tư cách cá nhân: Trở thành một trong những nhà làm điện ảnh uy tín hàng đầu của Việt Nam. Ông kể với chúng tôi rằng, đó là những tấm “giấy thông hành” để ông gặp gỡ mọi người, không chỉ trong nước mà là Việt kiều ở khắp nơi trên thế giới.

    Ông nói: “Tôi thường tâm sự với các đồng nghiệp trẻ rằng tiêu chí của phim tài liệu không chỉ là đúng và đủ. Đúng và đủ là tiêu chí của nghị quyết, của các công trình nghiên cứu khoa học. Hấp dẫn là tiêu chí đầu tiên của tôi. Phim tài liệu muốn hấp dẫn, phải đánh động vào thần kinh của xã hội đương đại, khiến người xem tự soi lại mình, rằng ta đang sống như thế nào, ta phải làm gì để có thể sống tốt hơn, lương thiện hơn, tử tế hơn. Con người vẫn khao khát về lẽ sống, về lẽ phải, chuyện trị nước, yên dân, chuyện hòa hợp hòa giải, chuyện tôn trọng sự khác biệt... Toàn là chuyện “nóng” cả, đâu phải tìm kiếm xa xôi gì tận bên Mỹ, bên Tàu? Làm phim tài liệu không phải để nói bằng được những điều mình nghĩ, mà phải nói được những bức xúc của số đông, đụng chạm đến điều gì sâu thẳm của nỗi đau thân phận con người, khiến người ta suy nghĩ. Đó là một giải mã, một chìa khóa mở ra lối đi cho riêng tôi.”

    Nhận xét về ông, nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Có thể nói không ngần ngại rằng anh là người làm phim tài liệu chính luận giỏi nhất nước ta. Trần Văn Thủy có một cái gì hơi giống Trịnh Công Sơn, bởi sự hòa quyện tuyệt vời giữa hình ảnh và lời bình, nâng giá trị của tư liệu lên rất nhiều. Một nhà văn chính luận sâu sắc trong vai trò một đạo diễn, luôn trực diện với những vấn đề nóng hổi của nhân sinh”.

    2. Năm 1992, khi làm phim Có một làng quê với Đài truyền hình NHK, mô tả đời sống tinh thần thanh bạch, ấm cúng, đầy tình làng nghĩa xóm của một làng quê nghèo Việt Nam sống bằng nghề đào đất nặn thành chum vại, tiểu sành, ông cứ thắc mắc tại sao người Nhật lại bỏ tiền cho mình thực hiện bộ phim nói về “cái tôi”, về một làng nghèo như thế, lại còn cho tôi thuê cả trực thăng để quay. Khi cùng xem phim ở Tokyo, những người Nhật Bản đã nói rằng: “Đây là chuyện cổ tích đời nay!” Lúc ấy ông mới hiểu, người Nhật Bản đã từng nghèo như thế, đã từng tốt với nhau như thế và họ biết hơn ai hết sự giàu lên có khi làm quan hệ con người xấu đi, họ muốn cho con cháu họ thấu hiểu điều đó. Đó là điều mà Việt Nam của chúng ta hình như chưa giác ngộ được.

    Ông nói: “Chúng ta đang mải chạy theo sự tăng trưởng về kinh tế, sao nhãng quan tâm đến tình người, đến đạo đức, đến sự tử tế. Trong thẳm sâu của mình, khi đặt niềm vui, nỗi buồn vào cái chung, thấy đau đớn lắm. Vào đầu thế kỷ, cụ Phan Châu Trinh đã chủ trương nâng cao dân trí. Điều đó bây giờ vẫn còn rất thời sự. Dân trí hiểu theo nghĩa của riêng tôi là sự hiểu biết rộng lớn, trong đó có sự hiếu hòa, tin cậy, để con người cảm thấy biết sống và đáng sống, chứ không phải ngổn ngang, bê bối như bây giờ. Nguyên nhân sâu xa của sự bê bối là sự xuống cấp về nhân cách. Suy cho cùng thì vấn đề của xã hội Việt Nam bây giờ chính là vấn đề nhân cách. Từ tham nhũng, mua quan chạy chức, đến chuyện nói một đằng, nghĩ một nẻo... Tôi nghĩ loài người từ khi sinh ra đã được dạy rằng hãy nói điều mình nghĩ. Nhưng có lẽ chưa bao giờ nói dối trở thành bình thường như bây giờ. Chống sự suy thoái của đời sống chính là chống sự xói mòn của nhân tính”.

    Trần Văn Thủy là người may mắn được đi nhiều, với tâm thế của một người “nhà quê ra tỉnh”, ông thích quan sát đời sống dân chúng, gần gũi chuyện trò, tìm hiểu những va đập của đời sống bà con hải ngoại ở Pháp, Đức, Anh, Italia, Bỉ, Australia, Nhật, Mỹ... khám phá những xung đột ý thức hệ trong thế kỷ qua, để có thể khôi phục lại một mảng tinh thần hầu như đã vỡ nát vì chiến tranh và những năm tháng khó khăn nối tiếp, giúp cho con người từ nhiều phía hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau hơn. Những điều đó ông trút vào tác phẩm, mà mỗi thước phim người xem như đang rì rầm trò chuyện cùng người đạo diễn. Mở đầu phim Chuyện tử tế năm 1985, ông đã viết: “Tử tế vốn có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức sự tử tế, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài của quốc gia, bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn. Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người, người tử tế trước khi mong muốn và chăn dắt họ trở thành những người có quyền hành, giỏi giang, hoặc siêu phàm...”. Tết vừa rồi, ông được một người bạn già cho mấy chữ trong bức thư họa: “Con người hòa thuận với nhau thì mãi mãi là mùa Xuân”. Những người cuối đời nhìn nhau không thể nào còn nhầm lẫn được.

    3. Ngoài đời, Trần Văn Thủy là một người xem trọng những việc tử tế. Ông là ân nhân của nhiều học sinh nghèo, những em bé tật nguyền, và đã chắt chiu từng đồng tiền kiếm được để xây bảy cây cầu nhỏ và xây trường học cho những nơi khốn khó.

    Gần hai mươi năm qua, ông đã góp phần xây được tám cây cầu to, rộng, đẹp, bền chắc, xây trường tiểu học, trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, khu văn hóa, gần một trăm giếng bơm nước sạch, nhiều ngàn mét vuông bê tông đường làng, trợ cấp cho người nghèo và các cháu bị hậu quả chất độc da cam, xây dựng lăng mộ tổ, lập ấp, và nhiều việc khác nữa. Ông không nghĩ đó là việc từ thiện, vì hai chữ từ thiện khiến ông có cảm giác đó là sự ban ơn. Ông coi việc mình làm chỉ là tiến hành những điều hiếu nghĩa. Bền bỉ đánh thức sự tử tế xung quanh, và ông đã trở thành một người tử tế từ bao giờ cũng không rõ nữa.

    Kim Yến - Đan Anh


    Một số giải thưởng đã đạt được

    Những người dân quê tôi, phim đầu tay, quay ở chiến trường khu Năm, đoạt giải Bồ câu Bạc tại LHP Quốc tế Leipzig (1970). Phản bội, giải Vàng LHP Việt Nam 1980, giải Đạo diễn xuất sắc. Hà Nội trong mắt ai, giải Vàng LHP Việt Nam 1988, giải Biên kịch xuất sắc Nhất, Đạo diễn xuất sắc Nhất, Quay phim xuất sắc Nhất. Chuyện tử tế (1985), giải Bồ câu Bạc LHP quốc tế Leipzig, được báo chí nước ngoài gọi là “Quả bom đến từ Việt Nam”, được hơn 10 đài truyền hình lớn trên thế giới mua bản quyền và được chiếu rộng rãi ở châu Âu, Nhật Bản, Úc và Mỹ... Chuyện từ góc công viên, Giải Vàng LHP Hội Điện ảnh năm 1996. Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai (1999), giải Vàng LHP châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 43.

    Ông được trao tặng danh hiệu “Chứng nhân của thế giới” tại hội thảo “The Robert Flaherty” dành cho 200 nhà làm phim tài liệu độc lập, tại New York (Mỹ) năm 2003.
     
  3. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Mạn đàm về người man di hiện đại- phần 1

    Mạn đàm về người man di hiện đại -
    Bài đã được xuất bản.: 16/04/2009 01:47 GMT+7

    http://www.tuanvietnam.net/man-dam-ve-nguoi-man-di-hien-dai

    (TuanVietNam) - Học giả Nguyễn Văn Vĩnh hiện diện qua "Mạn đàm về người man di hiện đại" là con người của những luồng thông tin đa chiều dữ dội. Xuyên suốt 4 tập phim, cụ được đánh giá lại là mộtvĩ nhân kiệt xuất, cho dù chính cụ chỉ tự nhận mình là một "người man di", một "người thường".


    Người man di Nguyễn Văn Vĩnh

    Đoạn cuối của "Mạn đàm về người man di hiện đại", bộ phim tài liệu của đạo diễn, NSND Trần Văn Thủy về học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936) là cảm xúc được dồn tụ trong suốt chiều dài 215 phút, khiến gần như toàn bộ những người kiên trì dõi theo từng thước phim không khỏi... bàng hoàng vào phút kết thúc.

    Hình ảnh về học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong phim (Ảnh: Lê Thoa)
    "... Tôi xuất thân không phải từ một gia đình "danh gia vọng tộc", "khoa bảng", thậm chí không được như số đông con dân Việt lúc bấy giờ mà từ một gia đình rất nghèo. Nói theo cách nói của thời hậu sinh thì từ một gia đình thành phần rất cơ bản. Tôi đã bước vào đời từ một cậu bé 8 tuổi, nghèo khó, kéo quạt ở trường thông ngôn đình Yên Phụ.

    Nói chí phải như anh Vũ Bằng, một đệ tử của tôi: "Cái đời ông Vĩnh, ấy là cái đời chẳng được học hành gì". Tất cả những gì tôi làm là vượt lên hoàn cảnh để gửi gắm tình yêu sâu nặng của tôi với đất nước này, tình thương vô bờ của tôi với dân tộc này.

    Xứ sở của chúng ta từ cổ chí kim không biết cơ man những con người có tấm lòng ái quốc. Hãy vì hậu thế mà ứng xử với họ cho dù họ có "ái quốc" theo cái cách của họ.

    Còn tôi, xin hậu thế chớ nặng lòng bàn cãi. Hãy để cho tôi yên phận trong cái danh vị tốt, xấu mà người đời đã trao cho tôi. Không sao cả! Không sao cả! Vì tôi từng nghĩ về mình còn tồi tệ hơn thế nhiều. Tôi đã nghĩ: "Tôi là người man di hiện đại". Đúng như vậy. Không tin thì các bạn hãy trở lại bức thư tôi viết năm 1932 cho cụ Huỳnh Thúc Kháng mà coi..."

    Khép lại 4 tập phim tài liệu dài đằng đẵng chính là những lời "báo mộng", được ghi lại từ những... giấc mơ ấy.

    Và trong bức thư gửi cụ Huỳnh Thúc Kháng, "người man di hiện đại" (theo nghĩa xếp mình ra bên ngoài, nhìn mình từ bên ngoài để tự phê bình, soi xét bản thân) đã viết:

    "Cái hố sâu ngăn cách giữa nhà Nho chân chính như ông, người không còn tin vào những tư tưởng lẫn những phương pháp của quá khứ, với một người man di hiện đại như tôi, sản phẩm của một nền giáo dục hỗn hợp và khiếm khuyết, kẻ đang cố tìm một vài chân lý trong cùng cái quá khứ đó, mà tôi, tất nhiên cũng không biết gì hơn ông Kháng. Cái quá khứ đó dù sao cũng hiện lên đối với tôi như một nguồn sức sống và ánh sáng chưa được biết tới.

    Chúng ta đã gặp nhau trên con đường và người nào cũng cho là mình đi đúng hướng, chính là vì con đường đó chưa có. Giống như, rốt cùng, cả hai chúng ta đang đi tìm chân lý, thì không nhất thiết cứ phải đi theo cùng một hướng...".

    Người viết những điều đầy hàm ý ấy được nhìn nhận và đánh giá như một "Tân Nam Tử", một người nước Nam mới, thấu suốt bản thân, kiên định đi theo lý tưởng của mình, suốt một đời nhất quán một tấm lòng yêu nước.

    Bức tranh "Sự truyền bá chữ quốc ngữ vào Việt Nam - Cái chết
    siêu việt của ông Nguyến Văn Vĩnh" do họa sĩ Nguyễn Đình Đăng vẽ năm 2001 tại Tokyo - Nhật Bản
    Toàn bộ những đóng góp vô cùng lớn lao của Nguyễn Văn Vĩnh trong suốt cuộc đời cụ, minh chứng trong gần một thế kỷ qua sau khi cụ tạ thế, là tất cả những gì cần "xét lại" về con người và tầm vóc của cụ.

    Nếu ai biết đến câu nói có tính "sấm truyền" vào thời điểm đầu thế kỷ 20 về văn hóa "Nước Nam ta mai sau hay, hay dở cũng là ở chữ quốc ngữ!" thì cũng sẽ không thể không biết rằng Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên gia nhập Hội Nhân quyền Pháp - 1906.

    Cụ cũng là chủ bút đầu tiên báo xuất bản bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ (Đăng cổ tùng báo - 1907). Là người đầu tiên cùng Phan Kế Bính dịch và hiệu đính Tam quốc chí từ chữ Hán ra chữ quốc ngữ (1909).

    Là người đầu tiên dịch các tác phẩm văn học cổ điển Pháp của Vitor Hugo, Honore de Balzac, Alexandre Dumas, Moliere, La Fontaine... ra tiếng Việt. Là người Việt Nam duy nhất làm chủ bút ba tờ báo tiếng Pháp ở Bắc Kỳ... Và còn rất nhiều danh xưng đầu tiên và duy nhất khác gắn với tên ông mà lịch sử cũng như hậu thế đã và đang ghi nhận.

    Nói như GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Sử học VN: "Nếu đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh mà chỉ dừng lại ở việc cụ là thủy tổ của làng báo tiếng Việt, là người có công phát triển chữ quốc ngữ và là nhà dịch thuật xuất sắc thì chưa đầy đủ và thỏa đáng. Điều xứng đáng hơn cũng là đóng góp lớn nhất ở cụ chính là về tư tưởng. Đó là một trong những nhà tư tưởng dân chủ đầu tiên của Việt Nam mang tính khai sáng.

    Cụ cũng là người biết dùng văn học và văn hóa để thấm sâu vào lòng người, truyền bá những tư tưởng tiến bộ, vượt thời đại. Với người chủ soái của nền văn hóa sử dụng chữ quốc ngữ này, tiếc rằng, đã có những giai đoạn lịch sử bị nhìn nhận sai lệch... Với người làm sử chúng tôi, có những điều không phải lúc nào cũng được nói ra, nhưng đã nói ra thì không được nói sai sự thật".

    Điều mà GS Phan Huy Lê cũng như nhiều học giả, nhà văn hóa khác nói về Nguyễn Văn Vĩnh, đánh giá về "người man di hiện đại" này cũng chính là điều thôi thúc gia đình, dòng tộc nhà yêu nước Nguyễn Văn Vĩnh cùng với đạo diễn phim tài liệu nổi danh Trần Văn Thủy vượt qua bao khó khăn, trở ngại để minh định lại nguồn gốc, tra cứu lại những giá trị mà cụ đã tạo dựng và để lại cho ngày hôm nay.

    Những thước phim "độc đạo"

    Với bộ phim đã vượt khỏi ý nghĩa "tư liệu gia đình" (theo dự tính ban đầu của gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh) như "Mạn đàm về người man di hiện đại", lại một lần nữa, NSND Trần Văn Thủy cho thấy mình vẫn mải miết đi trên con đường "độc đạo", không ngại động chạm đến những vấn đề khó và gai góc, với tâm thế của một nhà làm phim độc lập.

    NSNDTrần Văn Thủy (áo xanh) trong buổi chiếu phim (Ảnh: Lê Thoa)
    Hỏi tại sao trong suốt 215 phút của bộ phim được dựng từ gần 1.500 phút hình ảnh không thấy tiếng nói về những góc khuất, mặt chưa hoàn hảo của học giả Nguyễn Văn Vĩnh?

    Đạo diễn nói: Nếu đề cập điều đó thì có khi cũng có hàng trăm phút phim, như người ta đã từng coi Nguyễn Văn Vĩnh là "bồi bút", theo Tây, phản nước. Vì thực tế ấy mà con cháu cụ về sau đã phải hứng chịu bao bi kịch và sự hiểu lầm khắc nghiệt. Còn đây, chính là những gì về con người Nguyễn Văn Vĩnh được xác lập lại.

    Trước một bộ phim tưởng như rất "nặng nề" ấy, không ngờ khán giả từ trẻ tới già có mặt tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24 Tràng Tiền, Hà Nội) lại kiên trì theo dõi đến thế. Họ ngồi tràn cả ra sàn gỗ, trong không khí lặng im phăng phắc.

    Rồi trước tiếng vỗ tay rào rào của mọi người khi phim kết thúc, đạo diễn Trần Văn Thủy nói: "Chưa phim nào tôi làm là không "có vấn đề" cả, phim này cũng vậy. Khi biết về học giả Nguyễn Văn Vĩnh, tôi đã nghĩ ngay rằng dân tộc ta đã có những con người như thế tại sao ta không tôn vinh? Và tôi làm phim không để đi tìm tên tuổi hay danh lợi ưu ái nào. Tôi cũng không làm phim vì gia tộc họ Nguyễn mà tôi làm phim vì dân tộc này".

    Và bộ phim tài liệu "Tản mạn về người man di hiện đại" nay đã không còn là một điều gì quá mới nữa khi nó được ghi hình từ năm 2006 và trong một năm qua, phim đã được chiếu hơn 20 lần cho gia tộc, bạn hữu, Viện Văn học, ĐH Văn hóa Hà Nội, Tỉnh ủy Quảng Nam, khoa Pháp văn ĐH Bách khoa ( Đà Nẵng), khoa Báo chí & Truyền thông (ĐH KHXH &NV Hà Nội), chiếu bản rút gọn ở Pháp... và bây giờ Trung tâm Văn hóa Pháp tiếp tục trình chiếu trước đông đảo công chúng Việt.

    Bộ phim, đúng như tên gọi, đó là những ghi chép tản mạn, phác họa chân dung nhân vật trung tâm trên nhiều lĩnh vực, nhưng được thực hiện rất kỳ công:

    Từ hiện thực về một ngõ hẻm ở TP. HCM có tên Nguyễn Văn Vĩnh (trước đó là hẻm 27, phố Hậu Giang) mà đa phần người dân sống nơi đó "không biết ông Nguyễn Văn Vĩnh là ai (!)" cho đến những cảnh quay ở Pháp trên con đường khang trang Nguyễn Phùng - mà người được phỏng vấn cho biết đó là "con trai cụ Nguyễn Văn Vĩnh, nhà văn hóa lớn của Việt Nam, là người Việt đầu tiên và duy nhất được đặt tên phố ở Montpellier và ở Pháp".

    Từ suy nghĩ của nhiều thế hệ cháu con đến phát biểu dựa trên sự nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Văn Vĩnh của hàng chục học giả, nhà nghiên cứu hàng đầu của VN đến các học giả Pháp và các thế hệ cháu con cụ Vĩnh... Từ quê hương, bản quán nơi Nguyễn Văn Vĩnh sinh ra cho đến khi cụ bỏ xác ở xứ Lào...

    Cho dù đạo diễn Trần Văn Thủy tự nhận là "bộ phim còn nhiều khiếm khuyết về nội dung, kỹ thuật" thì với một người xem như tôi, chỉ biết đến học giả Nguyễn Văn Vĩnh qua sách vở, nay được chứng kiến những hình ảnh và lời bình sống động từ một bộ phim tài liệu mà khi dứt khỏi phim vẫn không thôi ám ảnh về cụ Nguyễn Văn Vĩnh trong một bức họa: Cụ chết trên con thuyền độc mộc trôi giữa dòng sông Sê - Pôn, trong lúc đi lánh nạn và viết thiên phóng sự "Một tháng với những người tìm vàng" với tổng cộng 10 bài, còn dang dở....

    Vẽ nên bức tranh cụ vẫn còn cầm trên tay cây bút lúc xa cõi tạm, bên cạnh là Alexandre de Rhodes, một trong các nhà truyền giáo đã có công lớn trong việc Latin hoá tiếng Việt, cho chúng ta chữ quốc ngữ ngày nay, họa sĩ, Tiến sĩ vật lý Nguyễn Đình Đăng, một người hâm mộ học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đã gọi cụ là "người vác thánh giá văn hóa đi suốt cuộc đời".

    *
    Bùi Dũng

    >> Phần tiếp theo: NSND Trần Văn Thủy: Tôi chỉ nói những điều mình nghĩ

    Có những lần tôi mơ lúc bốn giờ rưỡi sáng. Không chịu nổi, nước mắt nước mũi tôi dàn dụa ra. Tôi bấm điện thoại gọi: "Bình ơi...". Anh Nguyễn Lân Bình, cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh hốt hoảng: "Có chuyện gì thế anh?". Tôi mới bảo tôi vừa nằm mơ thấy cụ. Trong suốt một thời gian dài như thế...
     
  4. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Mạn đàm về người man di hiện đại- phần 2 ( tuanvietnam.net)

    Đạo diễn Trần Văn Thủy: "Tôi chỉ nói những điều mình nghĩ" -
    Bài đã được xuất bản.: 20/04/2009 17:06 GMT+7

    http://www.tuanvietnam.net/dao-dien-tran-van-thuy-toi-chi-noi-nhung-dieu-minh-nghi

    (TuanVietNam) - Không chỉ phác họa chân dung, con người và khai thác tư tưởng của họcgiả Nguyễn Văn Vĩnh, NSND Trần Văn Thủy đãcùng với giađình, con cháucụ Vĩnhcất lên tiếng nói "phản biện",định danh lại những định kiến cũ xưa về người chủ bút đầu tiên của báo chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ, dịch giả xuất sắc, nhà văn hóa thấm đẫm tinh thần dân tộc...

    "Tôi ý thức được mình phải tuyệt đối trung thực"

    NSND Trần Văn Thủy (Ảnh: Lê Thoa)


    - Có phần nào trong phim mà đạo diễn Trần Văn Thủy mượn nhân vật để nói lên quan điểm, tư tưởng riêng của mình?
    - NSND Trần Văn Thủy: Cách làm của bộ phim này là mời những nhà nghiên cứu, sử gia, nhà văn, nhà báo... uy tín tham gia trao đổi và chúng tôi tôn trọng hiện thực khách quan. (Đó là các giáo sư, Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Huệ Chi, Chương Thâu, Nguyễn Chung Tú, Trần Văn Khê, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, đại tá Yên Ba, nhà báo Trần Hòa Bình... và nhiều học giả Pháp khác - PV).

    Xem phim thì bạn đã thấy tất cả những người này đã nói một cách nồng nhiệt, rút ruột ra để nói hay bức xúc như thế nào.

    Sự thật thì có những câu nói còn thẳng thắn, quyết liệt hơn thế nhiều; nhưng để tránh đi những sự đụng chạm hay phát biểu tản mạn quá mà xa rời chủ đề của phim nên chúng tôi không đưa vào.

    Có lẽ câu hỏi của bạn liên quan đến phần về giấc mơ về cụ Vĩnh trong bộ phim...
    Khi nhà văn, đại tá Yên Ba xem đi xem lại lại bộ phim này cũng nói đoạn về giấc mơ này... rất Trần Văn Thủy! Cũng có thể đó là câu khen, động viên, cũng có thể là câu rất là nghi vấn.

    Tôi là người làm phim luôn bị đứng trước sự nghi ngờ. Ví dụ như phim "Hà Nội trong mắt ai", khi làm xong, rất nhiều người có trách nhiệm ở viện văn, viện sử, viện triết, viện hán nôm... đã xác định lại những chi tiết về lịch sử trong bộ phim này xem có đoạn nào trong bộ phim này tôi bịa đặt không! Hay các nhân vật trong bộ phim "Chuyện tử tế" cũng thế.

    Nếu tôi làm phim truyện, mà tôi không nói là sẽ khó hơn hay dễ hơn cần hư cấu thì có thể khác. Thế nhưng, với phim tài liệu thì tôi được dạy bảo và cũng ý thức rằng mình phải tuyệt đối trung thực với lịch sử, với vấn đề. Bởi khác các loại hình của kịch, sân khấu, văn học..., với phim tài liệu, anh phải tuyệt đối chính xác, phải trung thực.

    "Tản mạn về người man di hiện đại" ra đời nhân 125 năm ngày sinh Nguyễn Văn Vĩnh (15-6-1882 - 15-6-2007), 100 năm Đông kinh nghĩa thục, 100 năm Đăng Cổ Tùng báo (tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Bắc kỳ).
    Tác giả: Nguyễn Lân Bình (cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh)
    Đạo diễn: Trần Văn Thủy
    Quay phim: Nguyễn Sĩ Bằng
    GS Phan Huy Lê đánh giá: "Đây là bộ phim tài liệu lịch sử đầu tiên ở VN do cá nhân thực hiện mà không dựa vào sự hỗ trợ của bất kỳ một tổ chức nào và đạt được sự cuốn hút tuyệt đối đến phút chót".



    - Làm sao để thẩm định được giấc mơ như đã có, trong một bộ phim tài liệu, như trong "Tản mạn về người man di hiện đại"?
    - Chuyện này không thể kiểm định được, có thể nói chắc chắn là như vậy. Tôi đã bị ám ảnh với những giấc mơ về cụ Nguyễn Văn Vĩnh thế nào thì chính là người cháu nội của cụ Vĩnh là anh Nguyễn Lân Bình (người không tiếc công, tiếc của để đầu tư và theo đuổi bộ phim này - PV) nắm rõ nhất.

    Có những lần tôi mơ lúc bốn giờ rưỡi sáng. Không chịu nổi, nước mắt nước mũi tôi dàn dụa ra. Tôi bấm điện thoại gọi: "Bình ơi...". Bình hốt hoảng: "Có chuyện gì thế anh?". Tôi mới bảo tôi vừa nằm mơ thấy cụ. Trong suốt một thời gian dài như thế.

    Bộ phim thực hiện trong vòng một năm, nhưng quá trình chuẩn bị, hoàn thiện nó là cả một khoảng thời gian dài nữa chứ đâu chỉ có một năm. Cho đến bây giờ, tôi vẫn bị ám ảnh về cụ Vĩnh.

    Nếu như cụ là một nhân vật văn hóa được tôn vinh, được đánh giá, khẳng định xứng đáng như những gì cụ đã đóng góp cho dân tộc, cho lịch sử thì tôi cũng chẳng nặng lòng, chẳng bận tâm. Nhưng nghịch cảnh làm cho tôi bị ám ảnh là dẫu có giàu có đi chăng nữa chúng ta cũng không thể trở thành một dân tộc lớn nếu không có một nền văn hóa có chiều sâu và những nhân vật văn hóa có tầm cỡ.

    Lý do cực kỳ quan trọng thôi thúc tôi làm phim về Nguyễn Văn Vĩnh là chúng ta phải có sự nhận thức lại những giá trị đích thực của dân tộc, để chúng ta có thể ngẩng mặt lên nhìn thiên hạ khi chúng ta có một nền văn hóa xứng đáng, với những danh nhân văn hóa lớn. Và tôi vẫn luôn nghĩ rằng một dân tộc lớn thì không thể chỉ bằng những chiến công trong quá khứ, cũng không thể trở thành dân tộc lớn chỉ bằng nhiều tiền, lắm của.
    Những giấc của tôi về cụ Nguyễn Văn Vĩnh, với tôi cũng là những giấc mơ cực kỳ xúc động. Tại sao chưa thấy ai trong các hậu duệ của cụ Vĩnh nằm mơ thấy cụ mà tôi nằm mơ thấy cụ thì cũng là điều lạ chứ!?

    Nếu nói tôi gửi gắm lòng tôi qua những giấc mơ về cụ Vĩnh thì tôi cũng không cãi vì rõ ràng là có tâm cảm, sự đồng cảm của tôi ở trong đó. Mà hồn vía của cụ Vĩnh cũng nằm ở trong đó. Nếu chúng ta đọc lại tất cả những gì cụ viết trên báo chí, trên sách vở, những điều cụ đã nói... thì sẽ thấy điều đó.

    - Những học giả, nhà khoa học, nhà báo... được phỏng vấn trong phim có ai phàn nàn, phiền trách gì về những phát ngôn của họ được dựng lên phim?
    - Tôi có thể nói một điều chắc chắn là tất cả mọi người đều rất hài lòng. Tôi là người cực kỳ cẩn mực và có kinh nghiệm trong việc sử dụng ý kiến của họ. Điều này đã thể hiện qua rất nhiều bộ phim của tôi đã làm.
    Mỗi người được mời quay có khi nói một, hai tiếng chứ không phải mười, hai mươi phút như chúng ta thấy trên phim. Làm cái này công phu lắm. Chúng tôi đã chép lại toàn bộ những gì họ nói trên giấy, tới vài trăm trang, sau đó làm một việc là dựng phim trên giấy, ráp các câu lại với nhau.
    Dựng phim xong, chúng tôi mời tất cả những người đã tham gia, dù nói ít hay nói nhiều, xem bộ phim này. Họ là người kiểm chứng, xem tinh thần của họ, điều họ nói có đúng không. Thậm chí, Nguyễn Lân Bình đã phải đem phim vào Sài Gòn để các vị ấy xem chúng tôi dựng như thế có được không và tất cả các vị ấy đều bằng lòng. Có điều này là vì cái tâm của những người tham giả trả lời phỏng vấn, họ có mẫu số chung ở đó, có tâm ở đó.

    Chúng tôi thấy may mắn là đã bấm máy ngay trong thời điểm ấy chứ đến bây giờ nhiều người trong số đó đã yếu quá rồi... Như bác Nguyễn Chung Tú, bà Mười, bà Phan Thị Minh (cháu ngoại cụ Phan Chu Trinh)... bây giờ không nói được nữa. Bác Trần Văn Khê, bác Nguyễn Đình Đầu đã yếu hơn. Anh Trần Hòa Bình đã đột ngột ra đi rồi...

    "Tôi ngưỡng vọng trước cụ Vĩnh"


    - Trong báo của mình, ông chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh có mục "Xét tật mình". Trong một bức thư gửi người bạn thân là cụ Phạm Duy Tốn, viết sau chuyến đi Pháp, cụ Vĩnh viết: "Nhận tội lỗi của mình có phải là một sự nhục nhã gì cho cam! Người nào mà đã trông thấy nhiều điều lẫm lỗi của mình, người ấy gần đi đến chữ hoàn toàn...". Nếu theo lẽ "nhân vô thập toàn" và tránh "thần thánh hóa" nhân vật thì cá nhân đạo diễn thấy có những điểm hạn chế gì ở con người, tư tưởng của học giả Nguyễn Văn Vĩnh bên cạnh những điều lớn lao, vĩ đại mà rất nhiều người đã tôn vinh, đánh giá trong suốt bộ phim?

    * NSND Trần Văn Thủy sinh năm 1940 tại Nam Định. Trong chiến tranh VN, ông làm phóng viên chiến trường.


    - Đạo diễn trên 20 phim tài liệu, nhiều phim đoạt giải cao trong các LHP quốc tế, trong đó có: Những người dân quê tôi, Phản bội (1979), Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế (1985), Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai (1999), Chuyện từ một góc phố (2003)...

    - Được trao tặng danh hiệu "Chứng nhân của thế giới" tại một Festival dành cho 200 nhà làm phim tài liệu độc lập tổ chức tại New York (Mỹ).


    - Đây là một câu hỏi hơi đột ngột đối với tôi. Có thể tôi quá say sưa với những chuyện hay, điều vĩ đại của cụ Vĩnh mà tôi chưa kịp nhận ra. Có lẽ phải có thời gian. Nhưng trước hết tôi đã thấy được những điều như thế là mình mừng, mình sướng rồi. Một con người như thế rất đáng tự hào, là tấm gương cho hậu thế.

    Tôi biết nếu tôi cứ nói vống lên, không dành sự phán xử, đánh giá của người xem thì cũng là một khiếm khuyết, một cái dở. Anh phải biết tự kiềm chế tình cảm của anh khi anh nói về một nhân vật nào đó.

    Nhưng hầu hết những người nghiên cứu, tìm hiểu hay xem phim về ông đều cảm nhận tương tự như tôi. Như có người đã xem phim xong gọi điện cho tôi nói trước đây em rất lơ mơ về Nguyễn Văn Vinh, bây giờ em mới hiểu không ngờ tầm vóc của Nguyễn Văn Vĩnh lại lớn lao như thế.

    - Còn câu nói "Nước ta sau này hay, hay dở là nhờ chữ quốc ngữ", ông có cho rằng câu đó là một lời "sấm truyền" và còn ý nghĩa gì với thực tế nước ta hiện nay?
    - Câu đó được đánh giá là cực kỳ hay, cực kỳ cần thiết trong thời điểm 90% dân chúng mù chữ, trong thời điểm người ta vẫn còn lưng xuống để học chữ nôm và chữ Hán.

    Như nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc nói nếu đèn sách học chữ Hán, chữ nôm thì 10 năm may ra mới học thông viết thạo. Người được coi là giải chữ Hán đến như ông Quách Mạt Nhược cũng chỉ biết khoảng 90% thôi. Chữ quốc ngữ thì chỉ cần 3 tháng là có thể học thông viết thạo.
    Đây cũng là câu hỏi hay khi đến nay nhìn lại, có thể thấy tinh thần ấy, câu nói "sấm truyền" ấy, may rằng đã được chứng minh khi chữ quốc ngữ đã trở thành hệ chữ quốc gia, đã thấm sâu vào các tầng lớp nhân dân, do nhiều thế hệ... Khi tiến tới cách mạng tháng 8 thì Việt Minh và cụ Hồ đã làm một việc hết sức ý nghĩa là toàn dân diệt giặc dốt.

    Như thế, câu nói ấy và chữ quốc ngữ đã hoàn thành sứ mệnh của nó với công lao của nhiều người, nhiều thế hệ...
    Nước Nam ta hay, hay dở không còn ở chữ quốc ngữ nữa mà là ở rất nhiều vấn đề, mà cái này tùy vào hoàn cảnh, trình độ, tâm trạng của mỗi người mà phát hiện ra điều gì mang tính quyết định. Với tôi, vấn đề bây giờ là nước Nam hay, hay dở tùy thuộc vào việc mọi người có thể nói được điều mình nghĩ hay không.


    * Anh Nguyễn Lân Bình (cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh):

    Anh Nguyễn Lân Bình bên con đường mang tên luật sư Nguyễn Phùng ở thành phố Mongpelier, Pháp
    Bộ phim "Mạn đàm về người man di hiện đại" ra đời theo cách không thông thường ở ta. Tôi khẳng định đây là bộ phim do tôi và gia tộc của học giả Nguyễn Văn Vĩnh đầu tư và thực hiện chứ không phải phim của Nhà nước.
    Giấy chứng nhận bản quyền tác giả do Cục Bản quyền tác giải - Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch cấp ngày 13/2/2008 (khi đó còn là con dấu Bộ Văn hóa - Thông tin) đã cấp cho tôi với tư cách là Giám đốc sản xuất.

    Tôi đã thuê đạo diễn Trần Văn Thủy và các cộng sự thực hiện bộ phim. Rất tiếc là việc này không có hợp đồng bằng văn bản cụ thể mà là đặt hàng bằng miệng.
    Tuy nhiên, chúng tôi đã thanh toán toàn bộ chi phí cho đoàn làm phim và có sự ký nhận đầy đủ. 100% chi phí thanh toán thế nào thì tôi đã công bố trước gia tộc của mình.
    Có người hỏi tôi thắng lợi lớn nhất mà tôi đã làm được là gì thì đó là việc một mình tôi đã quyết toàn bộ để đi tới hoàn thiện bộ phim này.
    Cũng có rất nhiều người hỏi tôi về tổng chi phí làm phim này, hiện tôi chưa muốn nói ra, vì có thể sẽ làm mếch lòng nhiều nhà làm phim của Nhà nước và có thể gây ngạc nhiên vì mức độ đầu tư quá rẻ của nó so với những bộ phim khác.

    Điều băn khoăn hơn cả của tôi ở thời điểm này là sao để xã hội nhìn nhận vấn đề theo quy luật tự nhiên là biết ơn đối với công lao và sự cống hiến của những người đi trước...


    • Bùi Dũng (thực hiện)
    THÊM VÀI CHI TIẾT VỀ " CHUYỆN TỬ TẾ " :


    Ngày 12/05/2011, 14:00:35 (GMT+7)
    Phim tài liệu – Đi tìm những giá trị thật
    http://sgtt.com.vn/PrintView.aspx?ArticleID=144454

    Bài 1: Đâu rồi hơi thở đời sống?

    SGTT.VN - Nếu như phim truyện Việt Nam những năm gần đây được sản xuất ồ ạt, đua nhau lên sóng, gây nhiều sự chú ý của dư luận thì phim tài liệu trầm lắng hơn. Do thiếu tiền, thiếu đạo diễn tài năng hay thiếu giờ vàng? Câu trả lời là thiếu... mọi thứ, và do thiếu cả sự trung thực mà dòng phim này ngày càng xa rời đời sống, ngày càng ít được khán giả quan tâm.

    Mong những cá tính trong phim được tôn trọng


    Cảnh trong phim Người mẹ – kịch bản và đạo diễn: Trầm Hương.


    Đạo diễn Trần Văn Thuỷ kể: “Hôm qua, một giáo sư điện ảnh Mỹ tìm đến tận nhà tôi để có được một bản phim Chuyện tử tế đem về Mỹ làm giáo trình giảng dạy. Tại sao lại có người đi nửa vòng trái đất để tìm một bộ phim tài liệu cách đây gần 30 năm? Tôi nghĩ phim tài liệu không chỉ đúng và đủ, mà còn cần phải hay. Cuộc đời vốn là thật, nhưng đa số đạo diễn chúng ta lại biến nó thành giả, xơ cứng. Chữ “hay” ở đây chính là vấn đề đặt ra có chạm vào con tim của khán giả hay không? Điều đó rất hợp với quy luật đào thải. Phim nào cần cho cuộc sống sẽ tồn tại mãi, phim nào cản trở sự tiến bộ của xã hội sẽ bị đào thải. Nó đòi hỏi người làm phim tài liệu phải cực kỳ tâm huyết, trách nhiệm công dân, trung thực, có nhân cách lớn... mới có thể đi tới cùng vấn đề mà xã hội quan tâm. Muốn thế, không thể né tránh chính trị”.

    Nguồn sản xuất phim tài liệu cũng chỉ ở một số hãng phim – đặc biệt các hãng phim truyền hình. Ở những đơn vị này có nhiều cơ hội thực hiện những bộ phim tài liệu tốn nhiều tiền của. Những đạo diễn tâm huyết với nghề mong ước bán phim mình thực hiện cho các nhà đài để tái sản xuất. Tất nhiên đó phải là những sản phẩm có chất lượng. Bằng cách này, các nhà đài sẽ tăng cường tính chủ động sáng tạo, tiết kiệm được chi phí, vừa tạo điều kiện cho các đạo diễn thực hiện tác phẩm của mình. Nhiều phim tài liệu rất hay, đặc biệt là phim tài liệu chân dung, nhưng người làm phim chỉ khuôn cứng cách thể hiện.


    Tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, một nhân vật cả thế giới biết đến đã trở thành nhân vật một bộ phim tài liệu của đạo diễn Lê Phong Lan.


    Đạo diễn kể chuyện nhân vật trong lúc làm phim, sau đó công chúng không còn được biết đến phần đời còn lại của họ nữa. Theo nhà văn Trầm Hương, nhà biên kịch của Những cánh hoa ngược dòng, Đêm trắng Vĩnh Lộc, Người mẹ…: “Cần huy động nhiều nguồn lực để phim tài liệu đồng hành với đời sống công chúng. Để phim tài liệu có sức sống đòi hỏi nỗ lực bứt phá, làm mới mình không chỉ cả đơn vị sản xuất lẫn người thực hiện. Chúng tôi mong những cá tính trong phim được tôn trọng”.

    Thừa công nghệ, thiếu…?

    Một số đạo diễn phim tài liệu hiện nay thừa nhận, chưa lúc nào các đạo diễn được trang bị phương tiện làm phim tài liệu đầy đủ và hiện đại như lúc này, nhưng khán giả vẫn không mặn mà, vì sao? Ông Thuỷ cho rằng vấn đề chính ở chỗ chất lượng phim bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác. Hiện nay phần lớn đều do đội ngũ làm phim truyền hình sản xuất, kinh phí thấp, bị rượt đuổi bởi thời gian phát sóng, kỹ thuật không cao... Mỗi phim chỉ khoảng 10 triệu đồng (trong khi phim tài liệu nhựa đầu tư mấy trăm triệu), làm sao có thể sâu sắc được. Ấy là chưa kể đài trung ương còn có cái nhìn thoáng, còn các đài địa phương kiểm duyệt rất gắt gao, đụng chạm đến chuyện địa phương là khó mà nói được đến cùng.

    [​IMG]
    Cảnh trong phim Chuyện tử tế – đạo diễn Trần Văn Thuỷ.


    Đạo diễn Lê Phong Lan (TFS) thì nhấn mạnh yếu tố con người. Chị cho rằng muốn làm một bộ phim tài liệu hay thì đạo diễn không chỉ cần kinh nghiệm mà còn cần tư duy đề tài thật thấu đáo, tìm mọi cách để thể hiện chiều sâu của nhân vật cũng như sự kiện. Mặt khác, việc chọn giờ phát sóng của đài Truyền hình TP.HCM hiện nay cũng khiến mọi người nản lòng với phim tài liệu: “Phim phát vào lúc 23g30 tối với 13g15 trưa thì ai thức, ai rảnh mà coi”. Có ý kiến cho rằng kinh phí cho phim tài liệu ở các hãng phim cũng rất hẩm hiu: “Ngày xưa làm xong bộ phim, ngồi trau chuốt kỹ lắm. Giờ thì một tập phim quay một tháng thù lao chỉ vài triệu, nên phải quay nhanh để còn làm phim khác. Vậy sao tránh khỏi phim dở, phim giả”, đạo diễn Phong Lan thẳng thắn nói.

    “Nếu có tiền, tôi sẽ chuyên tâm thực hiện những bộ phim mà mình thích, bán cho các nhà đài để “tái sản xuất”. Khi làm phim mà không lo đến kinh phí, không lo bị giới hạn sự sáng tạo, được chấp nhận nhiều phong cách, tôi nghĩ phim tài liệu sẽ có sức sống hơn, mới hơn, tươi hơn. Cũng đừng nghĩ đề tài truyền thống là cũ. Người làm phim cần làm mới khi thể hiện những đề tài cũ này”, nhà văn Trầm Hương chia sẻ.

    Nhóm phóng viên

    (Kỳ 2: Phim tài liệu cũng có hàng... giả?)
     
    Last edited: May 16, 2011
  5. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Mạn đàm về người man di hiện đại (tuoitre.com.vn)

    Ngày 13/07/2008, 08:36:30 (GMT+7)
    Mạn đàm về người man di hiện đại {Học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936)}

    http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/268433/Man-dam-ve-nguoi-man-di-hien-dai.html


    TT - Đoàn làm phim vào TP.HCM. Máy quay lia vào bảng tên đường Nguyễn Văn Vĩnh. Đạo diễn Trần Văn Thủy hỏi một, hai, ba người: Nguyễn Văn Vĩnh là ai mà được đặt tên phố này? Cả ba lắc đầu "không biết". Hỏi nữa thì nhận được câu trả lời: "Hình như ông là liệt sĩ chống Pháp".
    Máy lia sang Montpellier, thành phố phía nam nước Pháp, có con đường thật đẹp tên: Nguyễn Phùng. Một nhóm người Pháp, Việt tự hào nói với đạo diễn Trần Văn Thủy: "Nguyễn Phùng là người Việt đầu tiên và duy nhất được đặt tên phố ở Montpellier và ở Pháp. Ông là con trai cụ Nguyễn Văn Vĩnh, nhà văn hóa lớn người Việt". Đó là hai cảnh trong bộ phim tư liệu Mạn đàm về người man di hiện đại.

    Nguyễn Văn Vĩnh là ai?
    Tháng 6-1999, Hội đồng nhân dân TP. HCM quyết định đổi tên đường Hậu Giang dài 400m thành đường Nguyễn Văn Vĩnh. Lý do: Nguyễn Văn Vĩnh có công đầu khai sáng việc dùng chữ quốc ngữ cho người Việt đầu thế kỷ 20, với câu nói nổi tiếng: Nước Nam ta mai sau này hay, dở cũng là ở chữ quốc ngữ!


    Chương trình hỗ trợ xuất bản (PAP) của đại sứ quán Pháp tại VN, khởi động năm 1990, vài năm gần đây mang tên Nguyễn Văn Vĩnh, cũng đã giải thích: "Nguyễn Văn Vĩnh là tác giả của nhiều bài báo viết về các vấn đề văn hóa và lịch sử VN, ông cũng đóng góp tích cực công tác truyền bá văn hóa Pháp vào VN thông qua việc dịch nhiều kiệt tác của các tác giả Pháp như Molière, Victor Hugo, Balzac, Alexandre Dumas và La Fontaine. Thông qua các bài báo và công trình dịch thuật của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã góp phần vào cuộc cách mạng chữ viết tại VN đầu thế kỷ 20 và biến quốc ngữ thành chữ viết quốc gia...".
    Để được nhìn nhận như ngày nay, Nguyễn Văn Vĩnh và gia đình trong vài chục năm đã chịu không ít bi kịch bị hiểu lầm và đánh giá sai lệch.
    Bởi vậy, phim Mạn đàm về người man di hiện đại, bốn tập, dài 215 phút, thoạt đầu chỉ mang nghĩa "hướng nội": phim tư liệu gia đình. Người cháu nội Nguyễn Lân Bình, sinh 1951, viên chức Bộ Ngoại giao, năm 2006 thay mặt dòng họ làm phim với khao khát tìm lại danh dự cho gia tộc, làm rõ sự thật về cuộc đời và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Phim ra đời nhân 125 năm ngày sinh Nguyễn Văn Vĩnh (15-6-1882 - 15-6-2007), 100 năm Đông kinh nghĩa thục, 100 năm Đăng Cổ Tùng báo (tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Bắc kỳ) là hai sự kiện lịch sử mà Nguyễn Văn Vĩnh tham gia với tư cách người trong cuộc. Đạo diễn - NSND Trần Văn Thủy, quay phim Nguyễn Sỹ Bằng hoàn tất bộ phim sau một năm.
    "Người man di hiện đại"


    Nguyễn Văn Vĩnh mang bi kịch người trí thức "Tây học" tiền phong trong lĩnh vực: văn hóa, văn minh, báo chí, văn học, nghệ thuật... của VN nửa đầu thế kỷ 20. Bởi vậy, các nhà làm phim có lý khi đặt tên và chọn phương pháp mạn đàm. Phim xuất hiện hai dòng nhân vật, hai góc nhìn: trong và ngoài gia tộc Nguyễn Văn Vĩnh.
    Từ "điểm nhìn" riêng, các nhân vật bày tỏ ý kiến dân chủ về "người man di hiện đại" - cách gọi mà Nguyễn Văn Vĩnh đã tự đặt cho mình. Nhiều cảnh quay cảm động về người trong gia đình biểu lộ đau buồn, phẫn nộ, tủi hổ vì bị người đời coi khinh, là con cháu của Nguyễn Văn Vĩnh, "bồi bút", "tay sai" thực dân Pháp. Nhiều tâm sự chứa chan nước mắt qua lời kể của con gái, con trai, con dâu, cháu ngoại, cháu nội... khiến người xem rơi lệ.
    Mạn đàm từ góc độ chuyên môn, các nhà văn hóa, nhà sử học, nhà văn, nghệ sĩ, nhà báo... đều đánh giá Nguyễn Văn Vĩnh trên tinh thần tôn vinh sự thật. Phan Huy Lê đánh giá: Nguyễn Văn Vĩnh là nhà tư tưởng dân chủ VN đầu tiên mang tính khai sáng. Đinh Xuân Lâm: Nguyễn Văn Vĩnh là người yêu nước, thấm nhuần tư tưởng cách mạng dân chủ Pháp. Nguyễn Huệ Chi bức xúc: Không biết "hù dọa" nào khiến ta không dám gọi Nguyễn Văn Vĩnh là nhà yêu nước?
    Phan Thị Minh, cháu ruột cụ Phan Châu Trinh, đồng thuận: Vì yêu nước, thương nòi, đời Nguyễn Văn Vĩnh mới bi kịch! (phim có cảnh sông Sêpôn, nơi cuối đời, tránh vỡ nợ, sang Lào tìm vàng, ông chết thảm ở tuổi 54 trên thuyền độc mộc, tay vẫn cầm cây bút viết dở thiên ký sự tiếng Pháp Một tháng với những người tìm vàng). Philipe ở Viện Viễn Đông Bác Cổ (Pháp) hóm hỉnh: Nguyễn Văn Vĩnh luôn nghĩ mình ngang hàng người Pháp; người Pháp giận, bởi Vĩnh thiếu mặc cảm nhược tiểu!

    Tuy không bắt đầu bằng toan tính nghệ thuật, nhưng khi bắt tay làm phim "tài liệu gia tộc", bằng tài năng sáng chói trong thể loại phim tài liệu nghệ thuật (với thành công lớn trong nước và quốc tế: phim Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế...), NSND - đạo diễn Trần Văn Thủy và tác giả Nguyễn Lân Bình đã dựng được chân dung Nguyễn Văn Vĩnh theo kết cấu vòng tròn của một phim đích đáng là phim "chân dung nghệ thuật", sang trọng và tinh tế.
    Không ngẫu nhiên, các nhà làm phim quyết phục dựng bối cảnh Hà Nội đầu thế kỷ 20 bằng ảnh đen trắng. Qua ảnh, Hà Nội thời đó như ngôi làng to, nhà lụp xụp, đường đất chưa trải nhựa. Bờ bãi sông Hồng hoang dại cỏ may, thuyền bè tấp nập, chưa có cầu Doumer (Long Biên). Bố mắng cậu Vĩnh 8 tuổi: "Mày muốn chăn bò hay kéo quạt?", khiến Vĩnh thành thằng nhỏ kéo quạt thuê cho lớp đào tạo thông ngôn do người Pháp mở ở đình Yên Phụ.
    Kéo quạt, học lỏm tiếng Pháp, nhắc bài học sinh kém. Thầy hỏi, chưa ai kịp trả lời, Vĩnh nhanh nhảu "cầm đèn chạy trước ôtô”. Thầy coi Vĩnh là "thần đồng tiếng Pháp", đề nghị hiệu trưởng cho Vĩnh học chính thức lớp thông ngôn. Tuổi 14, Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu khóa, được bổ ngay làm thông ngôn cho tòa sứ Lào Cai...
    Người "phải lòng" chữ quốc ngữNguyễn Văn Vĩnh tự trưởng thành từ tiếng Pháp. Cơ duyên đó dẫn dụ ông "phải lòng" tiếp chữ quốc ngữ và ngộ ra: đó là công cụ văn hóa quan trọng nhất trên đường tiến hóa theo mô hình phương Tây, ngay khi người Việt còn trong thân phận dân thuộc địa Pháp. Và đời ông chỉ dành cho hai việc lớn: tiên phong làm báo chữ quốc ngữ và dịch thuật, xuất bản tác phẩm văn nghệ từ Pháp ngữ sang quốc ngữ, từ quốc ngữ sang Pháp ngữ (tiêu biểu là bản dịch tiếng Pháp Truyện Kiều của Nguyễn Du). Những việc ấy, khi đặt đúng thời điểm đầu thế kỷ 20, phải được coi là những công việc thế kỷ mà lịch sử chỉ chọn đặt lên vai một số ít người "khai sáng".
    Nguyễn Văn Vĩnh chính là một trong số đó.
    Xem phim, nhớ Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Quan Hải Tùng Thư, Huế, 1938) đã tiên liệu cuộc đụng độ giữa phương Tây và văn hóa Việt, vốn là "cái văn hóa thích hợp cho sự sinh trưởng của một xã hội bế tỏa, đến khi xã hội ấy gặp tình thế bắt phải khai thông thì lộ ngay ra hết mọi nhược điểm. Cái bi kịch hiện thời của dân tộc ta là sự xung đột của những giá trị cổ truyền của văn hóa cũ ấy với những điều mới lạ của văn hóa Tây phương. Cuộc xung đột sẽ giải quyết như thế nào, đó là một vấn đề quan hệ đến cuộc sinh tử tồn vong của dân tộc ta vậy".
    Xem phim, thấy Nguyễn Văn Vĩnh đúng là "tân Nam tử" (người nước Nam mới) biết dùng vốn "Tây học" uyên thâm, tìm đúng điểm rơi lịch sử, góp phần cá nhân giải quyết xung đột kể trên cho dân tộc Việt.

    NGUYỄN THỊ MINH THÁI


    Cụ Vĩnh có ba vợ chính thức, 10 trai, 5 gái. Năm người rất nổi tiếng: Nguyễn Giang, Nguyễn Nhược Pháp đều có mặt trong Thi nhân Việt Nam, Nguyễn Phổ - tình báo viên, Nguyễn Phùng (được đặt tên phố ở Pháp), Nguyễn Dực (đã mang toàn bộ trang kỹ thuật của riêng hiến tặng Đài Tiếng nói VN tháng 8-1945 và lắp đặt toàn bộ hệ thống trang âm tại quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945).
     
  6. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
  7. petitprince

    petitprince New Member

    Joined:
    Sep 13, 2009
    Messages:
    18
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    1
    Current city/country:
    Hanoi
    Current employer/school:
    FTU
    Undergrad major:
    Foreign trade economics
    MBA (intent) major/School:
    Finance
    Hay quá, hay quá, cảm ơn nvha. Thật tuyệt khi được xem lại những hình ảnh cũ về HN:XXX
     
  8. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Nội lực của đất nước chính là nhân cách của mỗi con người -

    http://community.tuanvietnam.vietna...-chinh-la-nhan-cach-cua-moi-con-nguoi?print=1

    Nội lực của đất nước chính là nhân cách của mỗi con người -
    Tác giả: Kim Anh
    Bài đã được xuất bản.: 11/08/2011 06:00 GMT+7

    Nhắc đến nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn Trần Văn Thủy là người ta nhớ ngay đến hàng loạt tác phẩm để đời của ông như Những người dân quê tôi, Phản bội, Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai, Chuyện từ góc công viên, Thầy mù xem voi… và đặc biệt là hai tác phẩm đã “làm mưa làm gió” trong đời sống điện ảnh của người dân Việt Nam cũng như cho chính cuộc đời ông một thời: Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế. Vì Hà Nội trong mắt ai mà ông gặp nhiều chuyện rắc rối, nhưng cuộc đời cũng lắm sự lạ lùng… sau năm năm bất lực, tuyệt vọng vì đứa con tinh thần của mình không được phép lên tiếng, thì ngay khi xuất hiện trở lại nó đã đưa ông lên đài vinh quang.

    Chưa bao giờ phim tài liệu lại được chiếu riêng một buổi như các phim truyện khác. Chưa bao giờ người ta lại bỏ tiền túi ra, xếp hàng lũ lượt để mua vé vào xem. Cũng chưa bao giờ các rạp chiếu phim lớn của cả nước lại làm việc hết công suất như thời điểm công chiếu hai phim nói trên. Không biết đến bao giờ điện ảnh Việt Nam mới lặp lại hiện tượng ấy. Hà Nội trong mắt ai nhận liền bốn giải lớn của Liên hoan phim Việt Nam năm 1988 (giải Bông sen vàng đặc biệt, giải Biên kịch, giải Đạo diễn, giải Quay phim xuất sắc nhất).

    Nhìn lại cả quá trình cống hiến của ông cho ngành điện ảnh, người xem dễ dàng nhận thấy ông luôn lấy con người làm trung tâm của mọi nghĩ suy, dằn vặt, nỗi đau và cả niềm hy vọng mà ông muốn đặt vào tác phẩm của mình. "Khi chưa có độc lập thì thân phận, cảnh đời của người dân lam lũ, khốn cùng luôn xuất hiện trong các tác phẩm văn học nghệ thuật. Nhưng khi có độc lập rồi thì không thấy bóng dáng họ đâu" là nỗi trăn trở của ông gửi vào Chuyện tử tế.

    Nguyên tắc tối thượng trong công việc của ông là phải làm ra được những tác phẩm thực sự có ích cho con người. Không phải đơn giản mà tại Hội thảo điện ảnh tài liệu Quốc tế The Robert Flaherty ở New York (tháng 5-2003), với hơn 200 nhà làm phim độc lập, đạo diễn Trần Văn Thủy và đạo diễn Toshimoto của Nhật Bản đã được vinh danh "Chứng nhân của thế giới". Năm 2010, Nhật Bản cũng đưa tên đạo diễn Trần Văn Thủy vào "Từ điển danh nhân" của họ.

    Câu chuyện ông chia sẻ với chúng tôi trong một buổi chiều ở Hà Nội cũng lan man, chất chứa biết bao tâm sự về con người. Ông nói:

    Bạn bè tôi, ngồi với nhau nói chuyện gì thì nói: Kinh tế, gia đình, sức khỏe, thậm chí cả những chuyện bậy bạ của đám đàn ông... nhưng rồi cuối cùng vẫn quay lại chuyện... chính trị. Mà điều này không chỉ với người Việt ở trong nước mà người Việt ở nước ngoài cũng thế.

    Nói chữ "chính trị" thì hơi xơ cứng và dễ bị hiểu lầm, mà phải nói đó là khát vọng, tấm lòng và lòng yêu nước của người Việt. Cái đó lớn lắm. Tôi vẫn nói với các đồng nghiệp trẻ rằng đừng hiểu chữ "tài liệu" một cách xơ cứng. Phim phải truyền tải được một thông điệp gì đó về lẽ sống, về cách ứng xử, về bổn phận... Một bộ phim, một vở diễn, một cuốn sách không có tư tưởng theo hướng đó thì không thể nào là một tác phẩm được. Đã gọi là tác phẩm thì phải chuyển tải được điều gì đó vào nhận thức của mỗi người và ta tạm gọi đó là tư tưởng.

    Theo thiển ý của tôi, điều cực kỳ quan trọng của mọi loại hình văn học nghệ thuật hay khoa học xã hội là phải lấy mục tiêu con người, xoay quanh con người. Ở trên đời này không có một nghề nghiệp nào, một chức vụ gì, một công việc gì gọi là tử tế nếu như không bắt đầu từ những ý nghĩa liên quan đến con người, đi từ nỗi đau của con người.

    Tâm huyết với cuộc đời là vậy, nhưng có lần ông đã thừa nhận mình là người tiêu cực?

    Đúng thế! Tôi cảm thấy mình là người tiêu cực với nghĩa là rất mong làm được nhiều điều có ích nhưng lại bất lực. Tôi đi nhiều, gặp gỡ nhiều người thuộc các tầng lớp khác nhau, biết nhiều cảnh ngộ... và đôi khi cảm thấy mình có lỗi trước các cảnh ngộ đó, mặc dù có lẽ tôi không có nghĩa vụ trực tiếp gì với họ. Phải chăng vì họ quý tôi quá, tin tôi quá nên tôi cảm thấy gánh nặng phải chia sẻ. Tôi có dịp đi nhiều nước trên thế giới, trong đó có Mỹ. Nhiều lần qua Mỹ và ở rất lâu, nghiên cứu về đời sống cộng đồng người Việt ở hải ngoại, tôi đi đến tận cùng của xã hội, sống với họ... có biết bao nhiêu là chuyện ám ảnh tôi đến tận bây giờ.

    Nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn Trần Văn Thủy. Tranh Hoàng Tường

    Có phải những chuyện đó được ông viết trong Nếu đi hết biển - cuốn sách từng khiến ông gặp những điều khá phiền phức bởi bị một số người Việt ở Mỹ công kích?

    Chỗ này phải nói dông dài một chút. Giữa năm 2002, William Joiner Center (WJC) thuộc Trường Đại học Massachusetts ngỏ ý mời tôi sang Mỹ để tham gia chương trình "Nghiên cứu về cộng đồng người Việt" do quỹ Rockefeller tài trợ. Tôi cảm ơn và từ chối vì đơn giản là tôi không biết "nghiên cứu" và tôi không thích "nghiên cứu". Làm một cái việc rất mất thì giờ, mất nhiều công sức, kết quả là một xấp giấy được bỏ vào ngăn kéo, may ra một năm được vài ba người đọc, theo tôi, đó là chuyện vu vơ.

    Nhưng tháng 8 năm đó, WJC nhắc lại lời mời. Thấy họ chân tình tha thiết quá, tôi nhận qua Mỹ. Nhưng, tựa như một ma lực, một định mệnh, tôi gặp nhiều hoàn cảnh, nhiều câu chuyện trong bà con người Việt mà tôi có thể tiếp xúc. Vui thì tôi chóng quên, buồn thì tôi bị ám ảnh, ám ảnh nhiều lắm, nhất là chuyện vượt biên, vượt biển, cải tạo, tù tội... Từ đó tôi không đi chơi nữa, tôi quyết định toàn tâm toàn ý vào một công việc rất mơ hồ và không rõ cái đích ở đâu, chỉ đinh ninh là nó sẽ có ích. Tôi đặt bút viết những trang đầu, rồi cố gắng "rặn" ra được quãng bốn năm mươi trang, suôn sẻ.

    Tôi có thói quen luôn nghĩ đến người đọc, người đọc trong nước và đặc biệt là người đọc ở Mỹ. Tôi bị khựng lại hoàn toàn. Hoàn cảnh xui khiến, nghề nghiệp mách bảo, tôi "đè" mấy ông bạn văn chương, trí thức ra trao đổi, trò chuyện cởi mở về chính cuộc sống và suy nghĩ của người Việt ở đây. Chỉ việc ghi chép trung thực và cam đoan với nhau là nếu công bố thì phải "y như bản chính". Thật là thượng sách.

    Như thế, dù không muốn ông vẫn có "công trình nghiên cứu" cho WJC, hơn nữa nó không bị xếp vào ngăn kéo, trái lại, nó được in thành sách và còn được tái bản - một chuyện khá hiếm đối với một cuốn sách tiếng Việt ở Mỹ?

    Mất khá nhiều công sức để bàn thảo với các anh chị ấy (những người tác giả gặp gỡ, chuyện trò - PV), cuối cùng thì bản thảo được chỉnh lý, chốt lại còn trên 200 trang đánh máy, tôi định nộp cho WJC hai tuần trước khi về nước. Bỗng dưng "trời xui đất khiến" thế nào, nhà văn Nguyên Ngọc đến Boston, ở cùng nhà, đi dạo, chuyện trò, thăm hỏi linh tinh: "Thủy, cậu sang đây làm gì?"... "Thế à, viết xong chưa?"... "Đưa tớ đọc chơi được không?".

    Đọc liền ba đêm, sáng hôm sau trở dậy, chưa kịp ngồi vào bàn ăn ông đặt tay lên tập bản thảo và nhìn vào mắt tôi: "Thủy! Cái này rất cần và có ích". Tôi không tin ở tai mình, hỏi lại và nóng ran cả người khi nghe ông nhắc lại: "Cái này rất cần và có ích". "Bố" này đã nói là tôi tin, tôi rành rọt nói với ông: "Nếu anh bảo cái này nó cần và có ích thì chắc chắn tôi in ngay và tôi cũng sẽ về nước ngay". Nếu đi hết biển ra đời lòng vòng là vậy. Chẳng có âm mưu gì đáng ngại, chẳng có tài cán gì đáng nể...

    Nếu nhà văn Nguyên Ngọc đã nói thế và ông tin nhà văn thì tại sao Nếu đi hết biển đến giờ vẫn chưa được phổ biến ở Việt Nam, thưa ông?

    Tôi nghĩ có lẽ cũng giống như Hà Nội trong mắt ai ở đầu những năm 1980. Ngày ấy, người thích thú, tán thành thì khá đông nhưng không có quyền, không có diễn đàn; người phản đối, lên án thì rất ít, nhưng có quyền, có diễn đàn, thậm chí có cả một guồng máy. Cũng có nhà xuất bản có nhã ý muốn in, tôi cảm ơn và có điều kiện: Phải in nguyên xi 100%, đúng từng dấu chấm, dấu phẩy. Chẳng phải tôi kiêu ngạo gì về những con chữ của mình, chỉ là tôi muốn tôn trọng tuyệt đối những người đã giúp tôi làm cuốn sách này.

    Với những gì ông đã và đang làm, ông có cho mình là người có tấm lòng yêu nước hơn người?

    Yêu nước không phải là đặc quyền của bất cứ ai. Đặc biệt không được ban phát cho người này yêu nước và người kia không được yêu nước. Khi tôi cùng gia tộc cụ Nguyễn Văn Vĩnh làm bộ phim Mạn đàm về người Man di hiện đại (bốn tập với 240 phút), ở cuối phim tôi nói rằng: Khi bộ phim đi vào giai đoạn cuối, vào một đêm mưa gió bão bùng, cụ Vĩnh đã về báo mộng cho người đạo diễn phim này: "Xin đa tạ những tấm lòng của hậu thế đã nói về tôi với những lời ấm áp, xin đa tạ! Nhưng chớ vì tôi mà làm mất thì giờ. Đất nước ta có không biết cơ man những người có tấm lòng ái quốc, hãy vì hậu thế mà đối xử tử tế với họ, cho dù họ có ái quốc theo cái cách của họ...".

    Trong một buổi tọa đàm trên truyền hình, ông đã từng nói: "Nội lực không phải là mấy đồng xu lẻ ở trong túi dân chúng. Nội lực là trí tuệ, công sức, tình cảm, tâm huyết của toàn thể dân tộc, không kể trong hay ngoài nước, cũ hay mới". Vây, theo ông, cách nào để phát huy nội lực của đất nước?

    Đối với tôi, trong mọi mối quan hệ, bao giờ cũng chỉ coi trọng yếu tố con người. Ở trong Chuyện tử tế có đoạn nói về trẻ em Việt Nam và trẻ em Nhật Bản. Trong khi trẻ em Việt Nam được học: "Các em là những đứa trẻ hạnh phúc bởi các em là con Hồng cháu Lạc, giang sơn của các em như gấm vóc, tài nguyên giàu có với rừng vàng, biển bạc...". Nhưng trẻ em Nhật Bản được dạy bảo: "Các em là những đứa trẻ bất hạnh bởi vì được sinh ra trên đất nước hoàn toàn không có tài nguyên, từng thua trận trong chiến tranh. Gương mặt của đất nước này và tương lai của đất nước này trông chờ ở các em". Thế cho nên thái độ của trẻ em Nhật Bản đối với đất nước của chúng khác hẳn con em chúng ta, có trách nhiệm hơn, bao dung hơn.

    Một ví dụ khác nữa là vua Trần Nhân Tông. Trong khi đánh thắng quân Nguyên Mông, các quan cận thần dâng lên cái tráp trong đó có danh sách của những kẻ nội phản, làm tay sai cho giặc. Nhà vua ưu tư và phán rằng: "Các ngươi, hãy vì tấm lòng của muôn dân, sự hiếu thảo của muôn dân, sự đoàn kết của muôn dân để xây dựng đất nước này, giang sơn này và mang đến cho bá tánh đời sống yên vui, ai ai cũng có thể nhìn nhau bằng tấm lòng tin cậy. Ta truyền lệnh đốt cái tráp này đi". Nếu nói nội lực của đất nước không phải là mấy đồng xu lẻ gửi ở ngân hàng thì có nghĩa nội lực là tất cả những vấn đề về nhân cách của một dân tộc, bản lĩnh của một dân tộc. Suy cho đến cùng vấn đề của xã hội Việt Nam bây giờ chính là vấn đề nhân cách. Tất nhiên suy nghĩ của tôi có thể là phiến diện, là chưa chuẩn.

    Nói cách khác là nội lực đất nước liên quan đến vấn đề giáo dục, thưa ông?

    Liên quan đến rất rất nhiều. Phải chăng nền giáo dục của ta hiện nay sản sinh ra những con người không dám nói sự thật, không có chính kiến, hắt nước theo mưa, nước chảy bèo trôi... Người ta không dám nói điều khác với ý kiến của cấp trên. Nếu như toàn dân được nói những điều mình nghĩ, mình cho là phải thì chúng ta càng có nhiều lựa chọn. Tôi chỉ có ước mơ duy nhất là đất nước mình trở thành một đất nước mà trong đó gồm những con người nghĩ gì nói nấy. Tất nhiên, ở những cương vị khác nhau thì những điều nghĩ và nói ấy nó sẽ có những giá trị nhất định. Nhưng tuyệt đối, đừng coi thường dân chúng.Thế có nghĩa, cách tốt nhất để phát huy nội lực chỉ đơn giản là làm thế nào để mọi người được nói những điều mình nghĩ?

    Đúng vậy, làm sao mà một người hay một nhóm người nào đấy lại có thể khôn hơn, giỏi giang hơn, sáng suốt hơn gần 90 triệu dân? Việc biết lắng nghe người khác nói sẽ chỉ làm cho xã hội tốt lên chứ không thể xấu hơn được.

    Theo ông, như thế nào là một người tử tế?

    Đây là một câu hỏi cũ như trái đất. Sống lương thiện. Biết đau những nỗi đau của đồng loại, biết nhục những nỗi nhục của đồng bào. Karl Marx tôn kính đã từng nói: "Tất nhiên, chỉ có súc vật mới có thể quay lưng lại với nỗi đau khổ của con người, mà chăm lo riêng cho bộ da của mình".

    Mở đầu phim Chuyện tử tế, năm 1985 tôi viết thế này: "Ngày xưa cha bác có dạy rằng, tử tế có trong mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó trên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài quốc gia, bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có nỗ lực tột bậc và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn. Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người, người tử tế, trước khi mong muốn và chăn dắt họ thành những người có quyền hành giỏi giang hoặc siêu phàm".

    Sau gần 30 năm, Chuyện tử tế vẫn còn nguyên giá trị. Nếu bây giờ có cơ hội, ông có làm tiếp không?

    Chẳng bao giờ làm lại được đâu.

    Vì...

    Ngày đó, và cả bây giờ xem lại Chuyện tử tế và Hà Nội trong mắt ai ai cũng sẽ tự hỏi: Chỉ có như vậy thôi mà sao lại bị cấm đoán và ồn ĩ lên thế? Có lẽ phim gây chấn động và sự quan tâm chính bởi những điều nó đặt ra vào cái thời điểm ấy. Kể ra, đến nay nó vẫn hợp thời về mặt nội dung. Nhưng nó không phải là kiệt tác hay đỉnh cao gì. Về mặt nghề nghiệp mà nói, phim rất thường bởi vì phần lớn là quay toàn cảnh, dùng lời bình dẫn dắt. Cách làm phim hiện đại bây giờ người ta không tiêu hóa nổi đâu. Và nói thật rằng khi chiếu lại những bộ phim này tôi thấy xấu hổ về mặt nghề nghiệp.

    Thực ra, phim tài liệu khó có thể nói là của anh, của tôi hay là của một người nào cụ thể. Đó là phim của cuộc đời. Tất cả những người trong phim, nhờ có sự hiện diện của họ, nhờ sự đóng góp tham gia của họ, nhờ sự từng trải, nhờ những thân phận của họ mà làm nên câu chuyện. Họ không phải là diễn viên. Không phải hư cấu, không phải đạo diễn gì cả. Cái xứ này có quá nhiều chuyện hay, không phải đóng diễn, bịa đặt.

    Tôi vẫn thường nói với các học trò của tôi rằng, cái dở nhất của người làm phim tài liệu chúng ta là cuộc đời vốn thật thì ta làm thành giả. Bình thường cuộc đời rất hồn nhiên, ta mang phương tiện, máy móc... đến, hô bật đèn lên, bấm máy đi... thế là tất cả mọi thứ "chết cứng" hết cả lại, nó không thật nữa. Đối với tôi cuộc đời là bàn thờ. Và như vậy, liệu tôi có làm được một Chuyện tử tế nữa không?

    Được biết, ông vẫn tiếp tục làm phim, vậy tiếp sau Mạn đàm về người Man di hiện đại sẽ là gì, thưa ông?

    Hội ái mộ Yersin ở tỉnh Khánh Hòa và Thụy Sĩ có gợi ý mời tôi làm phim về nhân vật này. Alexandre Yersin là người vô cùng có công với Việt Nam. Ông là người đi vào lịch sử y học thế giới bằng việc tìm ra vi trùng dịch hạch, ông là người tìm ra Đà Lạt, mang cây hồ tiêu và cây cao su vào trồng ở Việt Nam. Một con người vô cùng gắn bó, yêu thương với những người dân chài nghèo khó ở xóm Cồn, Nha Trang. Người gần như sống hết đời và làm khoa học ở Việt Nam.

    Trong di chúc, ông muốn rằng: Xin hãy đừng mang tôi đi đâu cả, hãy để tôi ở Suối Dầu, bên cạnh những cây cao su và cây hồ tiêu và những người Thượng... Một người tử tế như thế, đáng kính như thế, nhân hậu như thế, vì con người như thế tôi mong muốn làm một cái gì đó thật xứng đáng để hậu thế chúng ta không bao giờ quên ông.

    Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

    Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
     
  9. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Như chia sẻ của Bác Vũ Khoan dưới đây thì chính việc làm việc và phục vụ các " lead users " đã giúp hình thành nên nhũng phẩm chất cần thiết, mài giũa khả năng cạnh tranh, thich nghi và đáp ứng các yêu cầu của công việc thách thức, khó khăn hơn sau này?


    Ngày 31/10/2011, 07:35:09 (GMT+7)
    Giá trị sống

    Nguyên phó Thủ tướng Vũ Khoan

    Phẩm chất đầu tiên: sống tử tế


    http://sgtt.vn/Loi-song/154951/Pham-chat-dau-tien-song-tu-te.html



    SGTT.VN - Vào thời điểm đã có thể thảnh thơi sau khi rời khỏi chính trường, có thể bình tĩnh chiêm nghiệm cuộc đời, mở rộng cánh cửa và lắng nghe những ngọn gió thời cuộc thổi qua căn nhà yên tĩnh của gia đình, thì ông lại thấy mình phải làm gì đó, vì không thể quay lưng với cuộc sống.



    Ông hầu như ít khi từ chối những cuộc gặp mặt và giao lưu với thế hệ trẻ?

    Có thể nói, công việc thú vị nhất của tôi hiện nay là tiếp xúc thanh niên, sinh viên, học sinh. Điều đó giúp tôi có thêm hiểu biết và nhất là cảm nhận được hơi thở của cuộc sống… Thế hệ trẻ ngày nay có kiến thức rộng, cởi mở, mạnh dạn hơn thế hệ chúng tôi nhiều; cách suy nghĩ, lập luận cũng thẳng thắn hơn, không vòng vo hay né tránh, nhất là trên các vấn đề hóc búa. Những lợi thế đó của các bạn trẻ luôn cuốn hút tôi. Mỗi lần gặp gỡ, đối thoại với các cháu, tôi đều thấy phấn chấn, vui vẻ như mình trẻ lại và tin tưởng hơn vào tương lai của đất nước.

    Tiếp cận thế hệ trẻ là tiếp cận với tương lai. Thế hệ trẻ giúp mình “bắt mạch” được nhịp sống, mang lại cho mình sức trẻ, khiến mình cảm thấy chưa bị cuộc sống đào thải và như vậy, đỡ tủi thân hơn!

    Trong rất nhiều vấn đề được đặt ra tại các cuộc đối thoại giữa hai thế hệ, mối quan tâm nào của thế hệ tương lai đồng thời cũng là mối quan tâm đặc biệt của riêng ông?

    Vấn đề sử dụng người tài. Theo tôi nghĩ, có thể nhìn vấn đề này từ bốn góc độ. Thứ nhất, phải trả lời được câu hỏi: có thật lòng cần họ không và cần những loại nhân tài nào? Có người nói, khi đã cầu hiền tức là thừa nhận mình dốt, vậy điều trước hết là phải chấp nhận người ta giỏi hơn mình cái đã. Thứ hai, đã cầu hiền thì phải tạo môi trường, điều kiện cho người ta cống hiến bằng cách giao cho họ những công việc có giá trị đích thực, đòi hỏi gay gắt và đánh giá đúng công việc họ làm vì người tài thích được đòi hỏi, thậm chí đòi hỏi khắt khe. Thứ ba, cần có sự đãi ngộ thoả đáng. Người tài thường không đòi hỏi vật chất nhiều đâu mà điều quan trọng hơn với họ là sự tôn trọng. Thứ tư, phải rộng lượng vì người tài hay có tật. Nếu vì tật nhỏ mà rũ bỏ thì thật hoài phí – những tật không ảnh hưởng tới công việc, không trái với nhân cách làm người, chẳng hạn tật hay cãi. Các cuộc họp mà không có người cãi thì chán lắm! Đã dám dùng người tài thì phải biết chịu nghe họ. Ai cũng vậy, có chịu nghe người khác thì mới trưởng thành được, vì làm gì có ai thông tường mọi thứ?

    Một khía cạnh nữa về nhân tài còn ít được đề cập đúng mức. Đó là bản thân nhân tài phải có hoài bão, phải dấn thân, ham mê học hỏi, tìm tòi, sáng tạo, sống lương thiện chứ không nên chỉ đòi hỏi một chiều ở xã hội. Ai cũng thế thì lấy đâu ra nhân tài để làm cho đất nước giàu mạnh, từ đó có khả năng đãi ngộ xứng đáng nhân tài?

    Từ một phiên dịch trẻ tuổi, ông đã sớm được thừa nhận, điều đó có ảnh hưởng đến quan niệm sử dụng người tài của ông sau này?


    Phải nhận biết và tìm cách triệt phá cái xấu thì cái đẹp, cái tốt mới tồn tại được. Nếu cứ theo đuổi những thứ hoành tráng bề ngoài theo tâm lý vĩ cuồng thì nước ta còn nghèo túng, lạc hậu dài dài…

    Tôi không phải là người tài nhưng được người tài sử dụng. Là phiên dịch, tôi được tiếp xúc và học hỏi nhiều ở các vị tiền bối anh minh như Bác Hồ, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… Tôi trưởng thành lên được vì đã được giao những công việc khó và được đòi hỏi cao. Vào cuối những năm 1980 thế kỷ trước, khi là vụ trưởng rồi trợ lý bộ trưởng, tôi đã được ông Nguyễn Cơ Thạch lúc đó là phó chủ tịch hội đồng Bộ trưởng kiêm bộ trưởng Ngoại giao giao cho nhiều việc “trái khoáy” buộc tôi phải vượt qua chính mình. Những thử thách ấy buộc tôi phải học tập, nghiên cứu, đi vào cuộc sống, từ đó trưởng thành; những kiến thức và kinh nghiệm thâu lượm được đã giúp tôi đỡ lúng túng khi giữ các cương vị lãnh đạo trái nghề như thương mại chẳng hạn.

    Rời chính trường khi đang ở cương vị phó Thủ tướng phụ trách đối ngoại, đang được nhiều người dân kỳ vọng, ông sẽ tiếp tục tham gia công tác lãnh đạo và có nhiều đóng góp lớn cho đất nước, lúc đó tâm trạng ông ra sao?

    Đơn giản là đến tuổi thì nên nghỉ, đồng thời mình là cán bộ, đảng viên thì phải chấp hành nghiêm chỉnh quy định của tổ chức. Mỗi người phải biết lượng sức, đừng bao giờ nghĩ mình là người không thay thế được. Tôi luôn tâm niệm: “Không nên biết cách lên”, nhưng nhất định phải “biết cách xuống” đúng lúc và đúng cách.

    Mỗi cá nhân phải biết dừng đúng lúc, đúng cách. Nếu đẻ ra ngoại lệ sẽ sinh lắm chuyện lôi thôi. Người ta phải biết cách sống, không phải mọi điều mình muốn đều có thể.

    Tâm thế của ông lúc này? Có hay không cái gọi là “nỗi buồn thế sự”?






    Nhà thơ Việt Phương:

    “Tôi đã có quá trình lâu dài được biết về anh Vũ Khoan trên nhiều cương vị và thấy đó là một người nhân cách rất tốt và rất có năng lực, giỏi trong công tác đối ngoại và giỏi trong các công việc ở cương vị phó Thủ tướng”.





    Thứ trưởng bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga:

    “Ông hội tụ tất cả những phẩm chất mà người ngoại giao cần có. Một tấm gương tận tuỵ vì công việc, vì sự nghiệp chung. Đặc biệt, bằng con đường tự học, ông thực sự đã trở thành một pho từ điển sống, một bộ óc tư duy sáng tạo. Trong cuộc sống, đó là một người cha, người chú bình dị, chân thành, luôn chia sẻ và sát cánh cùng cấp dưới”.



    Nhà báo Hồ Quang Lợi:

    “Với phông kiến thức rộng, hiểu biết sâu sắc về đời sống và các quan hệ quốc tế, các vấn đề ông đề cập bao giờ cũng tiệm cận nhất với bản chất vụ việc. Bản thân ông cũng là một nhà báo, với những bài báo rất có duyên, có bản sắc, văn phong mềm mại. Ông rất cởi mở, thoải mái và luôn là một người bạn thực sự của báo chí”.

    Tôi cứ ngẫm nghĩ mãi. Mình cứ nói chế độ mình dân chủ hơn triệu lần, mình là lương tri của thời đại… nhưng sự thật thì nhiều việc, nhiều người chưa thể hiện được điều đó. Nhiều người đã đánh mất “gen xấu hổ”. Làm hỏng việc không xin lỗi, không từ chức, ra đường thì chen chúc, phóng uế bậy bạ, thấy hoa đẹp thì vặt bẻ không thương tiếc, người gặp tai nạn thì xông vào hôi của, quan chức thì tham nhũng vơ vét, “văn hoá phong bì” tràn lan, tệ “chạy” lây lan sang mọi lĩnh vực… Do đó có lẽ không nên nói quá nhiều những chuyện cao xa mà hãy “học làm người tử tế” đã. Tôi hay khuyên các cháu thanh niên rằng, trước hết hãy cố nói chứ đừng chửi thề, nhặt rác chứ đừng vứt rác, trồng cây chứ đừng chặt cây, đi chứ đừng chen… Không làm người lương thiện thì khoan nói đến chuyện lý tưởng, hoài bão!

    Có phải một trong những “phương cách tồn tại” của xã hội hiện nay là… tránh nói chuyện xấu?

    Vấn đề này không mới. Bản thân tôi khi đang làm việc cũng đã rất trăn trở. Đâu đâu cũng “tránh nói việc xấu”, sợ “vạch áo cho người xem lưng”, chỉ muốn khen và được khen. Vấn đề là phải nhận biết và tìm cách triệt phá cái xấu thì cái đẹp, cái tốt mới tồn tại được. Nếu cứ theo đuổi những thứ hoành tráng bề ngoài theo tâm lý vĩ cuồng thì nước ta còn nghèo túng, lạc hậu dài dài…

    Đi ra thế giới nhiều, nhìn lại, ông đánh giá ra sao về hình ảnh chính khách Việt?

    Nói đúng ra thì cán bộ lãnh đạo của ta chủ yếu là cán bộ chính trị, chuyên môn, chưa được bồi dưỡng những kỹ năng của chính khách. Cần phải coi làm chính trị là một nghề, do đó phải đào tạo bài bản: từ cách ăn, cách nói, cách trả lời phỏng vấn, ra quyết định, điều khiển cuộc họp, tiến hành đàm phán… Phải làm sao tạo dựng được “văn hoá chính khách” chứ không thể mang “văn hoá đường phố” vào chính trường được. Đáng buồn là các học viện của ta và toàn bộ nền giáo dục thường không chú trọng việc đào tạo kỹ năng cho nên toàn bộ công, viên chức của ta thiếu tính chuyên nghiệp.

    Phẩm chất số một của nhà ngoại giao là gì, thưa ông?

    Bên cạnh sự kiên định, khéo léo là sự chân thành. Kiên quyết, sắc sảo đến mấy vẫn nên chân thành, chân thành cả khi không đồng tình với đối tác. Sự xảo trá chẳng lừa được ai, chỉ tạo ra tình trạng mất lòng tin.

    Ông từng nói rằng, hiện nay công tác đối ngoại rất cần “trái tim nóng và cái đầu lạnh”. Với vấn đề chủ quyền biển đảo, cách ứng xử nào ông cho là thích hợp?

    Người ta nói “không có bạn vĩnh viễn, không có thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn”. Do đó mình phải xác định cho thật rõ lợi ích của mình ở đâu. Lúc này lợi ích tối cao của ta là giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đi đôi với yêu cầu duy trì môi trường quốc tế thuận lợi để thực hiện dân giàu, nước mạnh. Hai lợi ích ấy gắn bó mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, không thể xem nhẹ mặt nào. Làm sao xây dựng được nếu chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bị xâm hại; ngược lại làm sao bảo vệ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được nếu không tranh thủ được môi trường thuận lợi để phát triển? Khi làm bạn với ai cũng nên hiểu rằng họ có lợi ích riêng, khi lợi ích của họ và của mình song trùng thì gắn kết với nhau, ngược lại thì họ vẫn lo cho lợi ích bản thân thôi. Nghe thì có vẻ thực dụng song cuộc sống là vậy, ta cũng đã có nhiều bài học về mặt này. Nói thì dễ nhưng làm không dễ, do đó, hơn lúc nào hết, cùng với bầu nhiệt huyết cần cái đầu lạnh, sự tỉnh táo, thông minh, khôn khéo.

    Về đối nội, đây là thời điểm nợ nần nhiều, sản xuất hầu như rất ít phát triển, tài nguyên cạn kiệt… ông có cho rằng tình hình trên hoàn toàn có thể điều chỉnh được trong nay mai?

    Tôi thấy gần đây thường xuyên có quá nhiều các cuộc hội thảo, các bài phát biểu về “tái cơ cấu nền kinh tế” đến mức hoa cả mắt, ù cả tai! Nhưng cơ cấu thế nào và nhất là bằng cách gì thì vẫn chưa rõ. Tôi rất ngại căn bệnh nói theo thời thượng, theo phong trào nhưng nội hàm mỗi người hiểu một kiểu, cách làm càng tù mù hơn. Ví dụ gần đây có “phong trào” phát triển công nghiệp phụ trợ nhưng không rõ phụ trợ cho cái gì, hiệu quả ra sao, tiêu thụ ở đâu, giá thành thế nào… Không khéo sẽ lại hỏng việc. Nghe nói một trong ba nhiệm vụ cải tổ Vinashin là phát triển công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp đóng tàu, nhưng nếu sản phẩm phụ trợ ấy làm ra chỉ cung cấp cho Vinashin hay công nghiệp đóng tàu cả nước đi nữa thì dung lượng thị trường cũng không lớn, do đó, giá thành rất cao và sẽ lỗ nặng. Muốn giá thành hạ thì phải sản xuất trên quy mô đủ lớn, len được vào chuỗi giá trị toàn cầu mới hy vọng có hiệu quả. Đó là còn chưa nói đến chất lượng!

    Giữa các vấn đề kinh tế và xã hội, nỗi lo của ông “bên nào nặng hơn”?

    Hai mặt đó gắn bó mật thiết với nhau song theo tôi, vấn đề kinh tế không đáng lo bằng các vấn đề xã hội. Hiện có nhiều điều bất ổn quá. Những khó khăn về kinh tế đã dội vào xã hội, vào lòng người, dẫn đến hành vi con người có khi cực đoan… Những bất ổn về tâm lý xã hội ấy có thể gây tác động xấu trở lại nền kinh tế.

    Ông có cho là ở giai đoạn “lửa thử vàng” hiện nay, các điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể, đã hoặc đang thúc đẩy việc hình thành, xuất hiện những phẩm chất mới của dân tộc Việt?


    Cần phải coi làm chính trị là một nghề, do đó phải đào tạo bài bản: từ cách ăn, cách nói, cách trả lời phỏng vấn, ra quyết định, điều khiển cuộc họp, tiến hành đàm phán… Phải làm sao tạo dựng được “văn hoá chính khách” chứ không thể mang “văn hoá đường phố” vào chính trường được.

    Phẩm chất dân tộc là một phạm trù rộng lớn và phức tạp. Có những phẩm chất được hun đúc, tích tụ qua hàng ngàn năm, chắt lọc qua nhiều thế hệ. Theo dòng chảy của thời gian và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước lẫn trên thế giới thay đổi không ngừng đã nảy sinh những phẩm chất mới hoặc làm thay đổi những phẩm chất vốn có. Thật là khó để xác định được những phẩm chất mới của dân tộc lúc này, có lẽ đây là một đề tài đáng nghiên cứu nghiêm túc. Và phải có những phẩm chất vĩnh cửu, trong đó phẩm chất đầu tiên cần có là sống tử tế, hướng thiện, diệt ác, hay nói nôm na là “người phải ra người”.

    Từng gọi mình là “tội đồ” vì đã tham gia Chính phủ mà chưa đóng góp được hữu hiệu vào việc hạn chế, ngăn chặn tình trạng hao công tốn của khi đầu tư công không hiệu quả. Lúc này, điều gì khiến ông nuối tiếc nhất?

    (trầm ngâm) Giá đừng để mất cân đối vĩ mô nghiêm trọng và kéo dài thì tốt. Về một số mặt, kinh tế vĩ mô chúng ta đang đối mặt với nhiều khó khăn, bất ổn khá nghiêm trọng. Ở đây có nguyên nhân từ bên ngoài, có nguyên nhân sâu xa của nền kinh tế đã tồn tại từ lâu, có nguyên nhân trực tiếp do điều hành. Về đối ngoại, chúng ta cũng đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Những khó khăn ấy đương nhiên gây ra sự phân tâm về chuyện này hay chuyện khác. Lạc quan nhẹ dạ thì không nên nhưng bi quan quá mức cũng chẳng phải, vì dù sao “lực” và “thế” của nước ta đã khác trước nhiều rồi. Hơn thế nữa, người Việt ta mỗi khi gặp khó khăn, thử thách thì đều vượt qua được theo tinh thần “cái khó ló cái khôn”. Việc “dám” điều chỉnh nghị quyết Đại hội, giảm mục tiêu tốc độ tăng trưởng để lấy lại cân đối vĩ mô là một biểu hiện đáng hoan nghênh về “cái khôn” đã hé lộ!

    Cảm ơn ông!

    thực hiện Kim Hoa
    chân dung hội hoạ Hoàng Tường

    Xem thêm : ( http://vi.wikipedia.org/wiki/Vũ_Khoan )
     
    Last edited: Nov 1, 2011
  10. linhtt169

    linhtt169 Member Pre-family

    Joined:
    Sep 5, 2011
    Messages:
    39
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    6
    Current city/country:
    Vietnam
    Current employer/school:
    FPT
    Undergrad major:
    ECE
    MBA (intent) major/School:
    AIT
    Cảm ơn bạn đã chia sẻ clip. Vấn đề văn hóa yếu kém hiện nay ở Việt Nam thể hiện ở mọi mặt từ giáo dục, giao thông, y tế... Hè vừa rồi có dịp sang nước bạn Lào chơi, quả thật bất ngờ với văn hóa công cộng của họ, thật tuyệt và quy củ. Tình cờ cũng nghe được câu chuyện vui thế này.

    Một anh Việt Nam hỏi anh Lào:
    - Sao nước mày không có biển mà cũng có Bộ thủy sản?
    Anh Lào tặc lưỡi trả lời:
    - Ờ, thì cũng như nước mày có Bộ Văn hóa đấy thôi.
     
  11. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Có nhiều chi tiết mà nhà văn Bảo Ninh chia sẻ tôi cho rằng sớm hay muộn, xã hội cũng phải quay lại những thứ cốt tử này, dù muộn

    http://sgtt.vn/Van-hoa/146836/Khong-ai-mot-minh-lam-nen-hanh-phuc.html
    Ngày 28/06/2011, 08:42:22 (GMT+7)
    Nhà văn Bảo Ninh

    Không ai một mình làm nên hạnh phúc

    SGTT.VN - Bằng giải thưởng châu Á lần thứ 16 của báo Kinh tế Nhật Bản được trao cuối tháng 5, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh sau 20 năm ra đời đã được công chúng Nhật đánh giá là “một trong những tác phẩm kinh điển của văn học thế giới về chiến tranh”.



    Dường như chúng ta chưa làm tốt việc quảng bá văn học Việt Nam như lẽ ra chúng ta phải làm?

    Nhiều nước không dịch của chúng ta và đã lấy làm tiếc, mặc dù vậy họ vẫn biết Việt Nam có tác phẩm này, có nhà văn kia… Tại sao một số nước vẫn chọn dịch tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp? Vì chính giá trị của các tác phẩm đó. Các thị trường văn học lớn của thế giới như Anh, Pháp, Mỹ đều đã dịch một số của ta, dù rất ít, nhưng họ biết chúng ta có một nền văn học quan trọng nhưng chưa được dịch nhiều! Ví dụ nhà văn Vũ Trọng Phụng, mới chỉ bạn đọc trong nước biết, đáng tiếc cho độc giả Anh, Pháp, Mỹ vì không được đọc ông. Hoặc Nam Cao, Nguyễn Tuân…

    Ngay cả trong khu vực Đông Nam Á, việc giao lưu hiểu biết lẫn nhau thông qua tác phẩm văn học vẫn còn rất hạn chế. Làm sao cải thiện tình hình đó, theo ông?

    Trong khối ASEAN, người biết tiếng Việt không thiếu nhưng để dịch được tác phẩm văn học từ tiếng Việt ra tiếng nước họ, không dễ. Có lẽ phải chấp nhận các ngôn ngữ lớn: Anh, Pháp, hay Trung Quốc… Nên chăng, những giải thưởng khu vực như giải thưởng văn học các nước sông Mekong, giải thưởng văn học ASEAN đều phải mạnh dạn trao cho những tác phẩm đã được dịch sang tiếng Anh. Nhiều người Nhật đã hỏi tôi về cuốn Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần, tác phẩm đã được dịch ra tiếng Nhật và được khen vì người ta thấy hay, thấy có cảm tình. Trong khi đó ở Nhật Bản, cũng giống như ở ta, sách Tàu và phim Tàu tràn ngập, tivi giới thiệu suốt. Và điều đáng nói, chủ yếu sách Tàu ở Nhật là do người Tàu tự dịch ra tiếng Nhật!

    Đó là một việc cần làm vì mục tiêu quảng bá văn học Việt ra thế giới trong bối cảnh đội ngũ dịch thuật của chúng ta đang quá mong manh, e khó kham nổi!

    Tất nhiên, ở đây cần có sự nỗ lực rất lớn. Để làm được vậy phải vượt lên những tình cảm cá nhân, việc lựa chọn tác phẩm nằm trong danh sách tiến cử trao giải trong khu vực và quảng bá ra nước ngoài phải trên tiêu chí được bạn đọc trong nước thừa nhận, không nên duy trì cách ứng xử “chiếu trên chiếu dưới” lâu nay. Tôi nghĩ cách làm đó sẽ khiến những giải thưởng văn học trong khu vực không chỉ được các nhà văn “biết với nhau là chính” mà sẽ thực chất và có tiếng vang hơn!

    Được coi là một trong những tên tuổi của văn học thời kỳ đổi mới, ông đánh giá thế nào về gia sản văn học chúng ta đang sở hữu?

    Bản tính hay nhất của người Việt là không bài ngoại, tự tôn nhưng không tự phụ, nên rất dễ tiếp thu, từ đó có được sự phong phú trong suy nghĩ, phong cách viết. Vì thế mà chúng ta đã có một nền văn học khá đặc biệt tại châu Á. Nhưng cũng có những hạn chế, nếu không nói là nhiều hạn chế, khiến nền văn học đó không hùng tráng lên được mà chỉ dừng lại ở mức độ “hay với nhau”, dù rằng nếu được dịch ra ngoài thì nó vẫn hay, tôi tin là thế. Tất nhiên giai đoạn văn học nào về cơ bản cũng có hai loại: một loại làng nhàng, hàng xén và một loại là tác phẩm đích thực, tác phẩm đỉnh cao. Không nên gộp làm một.

    Ám ảnh lớn nhất của nền văn học trong nước, với cá nhân ông?

    Là đã chịu ảnh hưởng quá nặng, quá lâu cái bóng của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Hay nói cách khác, bị chính trị hoá quá mức cần thiết. Tác phẩm hay phải vượt qua được những cái bóng đó. Trước đổi mới, văn học Việt Nam từng có nhiều tác phẩm văn xuôi thành công như của Nam Cao hay Nguyễn Đình Thi… nhưng không nhiều. Các nhà văn nhà thơ như Phạm Tiến Duật, Lưu Quang Vũ, Đỗ Chu sẽ có những tác phẩm hay hơn nữa, nếu ngòi bút của họ thực sự khoáng đạt, tự do…

    Quan niệm “tự do sáng tạo”, theo ông?

    Không có tự do tuyệt đối, chỉ có tự do tương đối. Nhà văn, một mình ngồi trước máy tính, đó là tự do. Dầu vậy họ phải biết tôn trọng pháp luật và hiểu biết về hoàn cảnh chính trị ở nơi mình đang sống với tư cách công dân. Vì vậy, cần phải quy định rõ ràng trong luật: những nội dung nào là chống chế độ, chống Nhà nước, là vi hiến. Hãy chỉ đích danh những nội dung cấm. Một số cuốn có vấn đề chính trị, Nhà nước cần công khai cho mọi người cùng biết, vì việc thu hồi sách không công bố trên thông tin đại chúng đã khiến những cuốn đó “đắt hàng” và bán chạy hơn trên thị trường đen. Nhà nước có quyền, vì lợi ích chung, nhưng phải có những tiêu chí rõ ràng, rành rẽ. Nếu không, sẽ là sự ngăn cản đối với ngòi bút, đặc biệt với những người viết trẻ, lợi bất cập hại. Tại sao nhà Nguyễn kinh khủng như thế, vua có thể kết án tru di tam tộc, mà vẫn có Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, vẫn có Truyện Kiều?

    Ý kiến của ông thế nào về sự vô lối trong việc cấp phép tràn lan, thẩm định tác phẩm dễ dãi, khiến chất lượng xuất bản thật giả lẫn lộn, gây thất vọng cho công chúng…

    Rõ ràng là ở ta chưa có những tác phẩm mà người này cho điểm 0, người khác lại cho điểm 10; chênh lệch đến mấy thì cũng chỉ người cho 5, người cho 8 là cùng. Và đó chính là tự do trong đánh giá, nhìn nhận. Nhưng điều không hiểu được là một số tác phẩm văn chương, phim ảnh đã qua hội đồng duyệt mà chất lượng lại quá tồi tệ, gây nên những phản ứng dữ dội trong dư luận. Đã có những cuốn cực kỳ vớ vẩn và phản cảm vẫn được cho in, làm hỏng thị hiếu người đọc, có tội với bạn đọc. Như vậy, ngoài đòi hỏi nhà văn phải có tác phẩm xứng đáng, thì hệ thống cơ quan quản lý, thẩm duyệt, đội ngũ lý luận phê bình cũng phải thực sự giỏi, có trình độ ngang tầm…

    Nhìn sang lĩnh vực giáo dục, ông có bằng lòng với những ảnh hưởng tích cực của văn học đương đại đối với thế hệ trẻ?

    Có người nói ngày xưa dạy văn trong trường phổ thông hay hơn bây giờ. Không hẳn. Đó là thời trò nào cũng vanh vách những bài thơ được cô thầy yêu cầu học thuộc lòng, trong khi 70% các trò chẳng thấy có gì thú vị trong đó… Đến bây giờ, học trò cũng mới chỉ được học những tác phẩm “tốt nhất” theo tiêu chí “đóng hộp” của người biên soạn sách – mà không phải theo những tiêu chí A, B, C nào khác… Đó là vì nền giáo dục của chúng ta chưa thực sự có một cuộc cách mạng. Trong cuộc cách mạng đó, văn chương phải mang lại ánh sáng cho nền giáo dục. Lại có người nói độc giả ngày nay quay lưng lại với văn hoá đọc, lỗi là do cách dạy của nhà trường. Tôi lại cho là vì tác phẩm viết dở, nên không chinh phục được độc giả trẻ. Điều đó cũng tương tự câu chuyện đem văn chương xuất ngoại: anh muốn bạn bè quốc tế đọc truyện của anh, trước hết cái anh viết phải được bạn đọc trong nước thừa nhận, tức tác phẩm của anh phải hay. Người đọc bản ngữ phải thích, thì tác phẩm của nhà văn mới có thể đứng được.

    Không ít người viết có thâm niên đã hoang mang cắn bút vì cho rằng tác phẩm họ viết ra khó hợp “gu” lớp trẻ… Còn ông?

    Đã là nhà văn thì phải viết. Trong 1.000 nhà văn nước ta, rải rác cũng có người muốn làm nhà văn vì mục đích khác, đó là điều không tránh được. Nhưng đa phần đều yêu văn học. Tôi cũng vậy, không biết buôn bán, chỉ đủ sống bằng nhuận bút viết báo, bằng tiền bản quyền (vài nhà xuất bản trong nước đã trả dư tiền cho tôi đủ sống!). Vấn đề là thời nào cũng có những tác phẩm tinh hoa, và những tác phẩm dành cho công chúng đại trà…

    Khi Nỗi buồn chiến tranh có cơ hội hợp tác làm phim với biên kịch và đạo diễn người Mỹ, kịch bản xong rồi ông vẫn không chấp thuận… Ông khác một số người vì không vội vàng khẳng định “thương hiệu” bằng mọi giá, hay còn vì lý do nào khác?

    Có người nói trong chuyện đó tôi đã quá làm phách! Nói đúng ra là vì tôi không chấp nhận Nỗi buồn chiến tranh kiểu Mỹ! Mới đọc kịch bản, tôi đã không nhất trí, vì tôi thấy họ không hiểu gì về người Việt. Ví như nhân vật nữ bộ đội trong kịch bản, đâu phải là nữ bộ đội Việt Nam. Họ hứa sửa, tôi vẫn không đồng ý, nên họ phải thuê lại êkíp khác để làm. May là nhà sản xuất cũng đồng quan điểm với tôi. Tôi muốn có phim cho tác phẩm của mình, nhưng phim đó phải “vừa mắt” tôi, phải được làm tử tế… vì vấn đề đâu chỉ là chuyện thu nhập hay tên tuổi!

    Có phải vì vốn rất khó tính với chính mình mà 20 năm qua, ông vẫn để công chúng mỏi mòn chờ cuốn tiểu thuyết thứ hai sau Nỗi buồn chiến tranh?

    Hai mươi năm qua, ngoài truyện ngắn, làm báo, tôi vẫn viết tiểu thuyết, nhưng thấy khó quá, nên cứ ỳ ra. Vướng một chữ cũng để đấy… Tôi có tật viết không xong thì không thể làm gì khác. Hồi chưa có máy tính, có người viết đồng thời hai, ba tác phẩm trên hai, ba cái máy chữ, tôi thì chịu…

    Người Việt Nam chúng ta đang ngày càng thực tế hơn, ông có thấy mình và các đồng nghiệp nhà văn cũng không nằm ngoài xu hướng đó?

    Dẫu vậy, thế hệ chúng tôi từ bé đã được dạy đồng tiền là xấu xa, đến giờ khi đã trưởng thành về nhận thức, thì ý niệm đó vẫn ở trong đầu, rất khó gột… Nhưng, một số bạn bè tôi lại “trưởng thành” theo chiều hướng ngược lại: trước thì viết rất đạo mạo, lập trường trước sau một giọng; nay, để chiều theo độc giả, đã quay ngoắt sang thứ văn chương lả lướt, sex, thô bỉ… Tôi nhớ, năm tôi học lớp 10, một số nhà thơ đến trường đọc thơ – bắt – lính (dĩ nhiên, trong chiến tranh thì văn chương có nhiệm vụ “vực” tinh thần thanh niên chứ!), nhưng cũng chính họ, giờ đã “đổi màu”! Quá dễ để nhận ra những người như vậy, đám đó đông ra phết. Dù người ta có quyền thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh nhưng thật khó chấp nhận những người thực dụng cả trong văn học vì những gì họ viết chẳng còn đáng tin.

    Điều đó có nghĩa, nhà văn chỉ có thể viết những điều mình tin?

    Đúng, kể cả khi anh viết về sự thay đổi niềm tin, một cách chân thành, trung thực. Tài năng và trung thực có thể là một, cũng có thể là hai. Có người tài năng nhưng không trung thực, và ngược lại. Có một số nghề tài năng phải đi cùng với trung thực, ngoài giỏi nghề còn phải có một tấm lòng, như nghề nhà văn, nhà giáo, bác sĩ, công an, toà án…

    Ông từng nói điều hay nhất trong cuộc đời chính là những điều bình dị…

    Hầu hết thế hệ nhà văn chúng tôi đều muốn sự bình dị, nhưng nhiều khi không làm nổi. Vẫn cứ uốn éo, làm bộ. Rất khó tránh.

    Công chúng luôn rất quan tâm đến “ngôi nhà” của các văn sĩ. Ông có thể nói gì về “ngôi nhà” đó của mình?

    Tôi cũng như hầu hết các nhà văn khác, nhà cửa vợ lo hết. Tôi có thể đi đâu đó, nhưng chỉ có thể trở về cái tổ của mình để ngồi viết. Con trai tôi không theo nghề viết mà làm ngân hàng. Cha – con hiểu nhau trong lặng lẽ. Điều tôi muốn nhất ở con là sự lương thiện, trung thực. Một trí thức tử tế. Và đương nhiên, ai mà chẳng mong cho con cái được hạnh phúc hơn cha mẹ chúng.

    Một người cầm bút gắn gần cả cuộc đời vào một nỗi buồn mang tên “chiến tranh”, sẽ phát biểu như thế nào về hạnh phúc?

    Là được sống trong hoà bình, không phải lâm vào chiến tranh. Bởi lẽ, không có gì tốt đẹp hơn hoà bình và cũng không có gì đáng ghê sợ hơn chiến tranh. Người ta không ai có thể một mình làm nên hạnh phúc mà hạnh phúc chỉ có thể có trong một xã hội bình đẳng, tự do, văn minh, dân chủ – muốn thế phải có hoà bình! Đó cũng là “món nợ văn chương” mà tôi chưa trả hết, trong cuốn tiểu thuyết đang viết dở, dự kiến năm nay hoặc năm sau sẽ ra mắt bạn đọc, hoặc sẽ không bao giờ nữa…

    thực hiện: Kim Hoa
    chân dung hội hoạ: Hoàng Tường


    Nhà văn, PGS.TS Đặng Anh Đào

    “Cá nhân tôi thích truyện ngắn của Bảo Ninh hơn tiểu thuyết của anh. Trước hết vì anh có một giọng văn “trắng”, thoạt nghe tưởng như vô cảm, dường như anh đã thừa hưởng được điều đó từ người cha – nhà ngôn ngữ Hoàng Tuệ, một người có giọng văn tưng tửng, thâm thuý và rất có duyên. Bàng bạc trong tiểu thuyết và truyện của Bảo Ninh là nỗi buồn mang ý nghĩa sâu sắc về khoảng cách thế hệ, về vấn đề cha và con… Điều đó chứng tỏ anh vẫn thấy được vẻ đẹp thời đã qua và lưu luyến với nó”.

    Nhà văn Phong Điệp

    “Bảo Ninh là người đặc biệt. Dáng vẻ xù xì, bất cần, và tính cách ngại giao tiếp, không hoạt ngôn của anh dễ khiến người khác cảm thấy khó gần. Từng có thời gian công tác cùng với anh, nhưng thú thực phải mãi đến lúc anh rời báo, tôi mới thực sự hiểu được Bảo Ninh. Bảo Ninh là người lịch lãm, tinh tế, cẩn trọng và sắc sảo. Bên cạnh cuốn tiểu thuyết quá nổi tiếng, thì những truyện ngắn, những bài báo ký bút danh khác của Bảo Ninh cũng rất đáng đọc. Anh chưa bao giờ viết ra một bài, một chữ nhảm nhí nào. Từng câu, từng chữ, đều được anh cân nhắc kỹ càng”.
     
    Last edited: Jun 25, 2013
  12. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Nhờ xóa hộ.Tks
     
    Last edited: Jun 21, 2013
  13. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/3-cu-ca-ng-vng-tr-nhn-gip-gii-tr-trnh-vt-xe-gian-di.html

    June 19, 2013 By Guest 25 Comments

    3 câu hỏi của ông Vương Trí Nhàn giúp giới trẻ tránh “vết xe gian dối”

    Tác Giả : HOÀNG LỰC

    Thứ năm 06/06/2013 07:52

    (GDVN) – Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng để không dẫm vào “vết xe gian dối”, thế hệ người Việt trẻ nên chấp nhận sự thật, chấp nhận mình làm lại từ con số không. Thay vì vui mừng với tấm bằng đẹp nhờ gian dối các bạn trẻ nên làm lại bằng cách học thật, dám nhìn vào thực chất vấn đề, đặt ra câu hỏi cho riêng mình: Mình đã làm được gì? Mình đang làm gì? Và sẽ làm gì cho tương lai của chính mình…?

    Phản hồi bài viết “Rất nhiều người Việt tham lam, vô cảm, hèn nhát…” của GS-NGND Nguyễn Lân Dũng, nhà nghiên cứu – phê bình văn học Vương Trí Nhàn cho rằng: “Không phải số ít người Việt như thế mà ngược lại nhiều là đằng khác, nó là đại đa số điều đó thể hiện trình độ sống của người Việt còn thấp lắm…”.

    Căn nguyên từ Tham và Gian



    - Ông từng nói người Việt chẳng có tính nào tốt, GS-NGND Nguyễn Lân Dũng chỉ ra 5 thói xấu, PGS.TS Trịnh Hòa Bình cũng nói đến tính sính ngoại hám danh của người Việt…Vậy theo ông “tử huyệt” trong căn tính người Việt là ở đâu?

    NNC Vương Trí Nhàn: Tôi nghĩ rằng tất cả tính xấu người Việt, ở đây tôi muốn dùng người Việt vì theo tôi “số ít” người Việt như GS Nguyễn Lân Dũng có nói có lẽ là chưa đủ. Không phải là “số ít người Việt” đâu mà là rất nhiều, đại đa số là khác. Nhưng suy cho cùng cái xấu đó cũng bắt nguồn từ lòng tham và sự dối trá.



    Người Việt càng giàu thì càng tham càng xấu hổ hơn khi người Việt chỉ tham những thứ tầm thường nhỏ mọn. Có những anh giàu “nứt đố đổ vách” nhưng vẫn tham con gà, quả trứng với anh em, xóm làng. Cái tham này tôi nghĩ không phải chỉ do cơ chế thị trường bây giờ mà nó là ung nhọt lâu rồi trước đây cứ nói đến cái tham của người Việt là hết thảy mọi người “nhảy cẫng” lên chối. Bây giờ thì từ sư tham, thầy tham, dân tham, quan tham…Ai cũng vơ vét cho mình.

    Từ tham nên người Việt dối trá, muốn đạt được mục đích muốn thỏa mãn lòng tham thì người ta phải dối trá, lừa gạt nhau. Hai thói xấu đó nó có logic biện giải cho nhau trở thành thói xấu người Việt từ bao lâu nay. Để giải thích cho việc làm sai, giải thích cho thói xấu của mình người Việt thường quanh co bịa ra lý do để chống chế vì thế càng khiến sai lầm, thói xấu đó nhiễm sâu hơn vào đời sống người Việt.

    - Nói như ông thì rõ ràng người Việt biết mình tham, biết mình dối trá nhưng sao không sửa?

    NNC Vương Trí Nhàn: Đúng! Tôi nghĩ không cần tôi, GS Nguyễn Lân Dũng hay bất cứ ai nói ra nhưng người Việt thừa biết căn bệnh của mình là gì? Nhưng sao không sửa thì lại là câu chuyện đáng để nói. Tôi chỉ so sánh như cái anh bị bệnh gan, dạ dày biết chết nhưng vẫn cứ uống rượu theo kiểu biết chết nhưng vẫn lao vào. Chuyện tham lam và dối trá người Việt cũng như thế, mà như GS Nguyễn Lân Dũng cũng nói nó làm mất đi mối quan hệ xã hội đồng thời mất cả uy tín quốc tế, mất đi tình anh em. Hỏi rằng mối người Việt tham lam có biết điều này không, tôi là nghĩ biết nhưng họ vẫn làm vì cái suy nghĩ cái nhìn của người Việt ngắn chỉ phản ứng tức thì, biết trước mắt, hiện tại mà thôi.

    Hơn nữa như tôi nói ở trên người Việt thường biện ra những lý do để giải thích cho cái sai của mình. Người ta đưa ra lý do nghèo để đi ăn trộm, đói để đi ăn cắp…hay tại vì thế này, tại thế kia nên tôi như thế… Mà ngay cả trong cách lý giải cũng thể hiện cái nhìn ngắn thiếu suy nghĩ bỏ qua luân thường đạo lý phép tắc xã hội.

    - Nhiều nguyên nhân được đưa ra để lý giải cho cái tham và dối trá của người Việt trong đó nhấn mạnh vai trò của giáo dục. ông nghĩ sao về điều này?

    NNC Vương Trí Nhàn: Tôi nghĩ học là cái ý thức cao của con người mà để giỏi không phải là ham học, hứng thú học như người ra hay nói mà quan trọng là biết học Giáo dục ta trước đến nay cứ mải theo cải cách, nâng cao chương trình học, đổi mới phương pháp…sách nhiều, trường lớp khang trang nhưng điều quan trọng là dạy cho con người làm sao để biết học thì lại thiếu.

    Biết học ở đây là biết học có cả hai nghĩa là cách học và học cái gì, trước tiên phải dạy cho người ta cách học, học như thế nào để có kết quả tốt, để tiếp thu tốt. Nhưng theo tôi trước điều đó là phải giải bài toán học cái gì? Có câu “tiên học lễ – hậu học văn” hiểu đơn giản nghĩa là trước tiên phải học lễ nghĩa sau đó với học văn hóa. Nhưng lễ nghĩa học ở đâu? Đó là gia đình phải từ gia đình, tôi cho rằng gần như 100% vợ chồng trẻ bây giờ không có cho mình khái niệm thế nào là gia đình, vai trò của thành viên trong gia đình…Vì thế người ta làm sao biết dạy con thế nào.

    Vì vậy tôi nghĩ giáo dục ở đây không chỉ là môi trường giáo dục văn hóa ở trường lớp mà nền tảng là phải từ các gia đình.

    Trình độ sống thấp

    - Nói như vậy ông cho rằng người Việt xấu hoàn toàn là do giáo dục?

    NNC Vương Trí Nhàn: Không hẳn như thế sâu xa cốt lõi vấn đề này tôi nghĩ rằng trình độ sống người Việt còn rất thấp. Tác động của cơ chế thị trường, khi đồng tiền vật chất trở thành tiêu chuẩn để đánh giá con người cũng một phần tác động làm tính cách người Việt trở nên xấu hơn. Cũng chínhg trình độ sống thấp đó khiến cho sự tham lam, gian dối của người Việt trở nên hài hước chua cay.

    - Ông có nói đến trình độ sống của người Việt thấp nhưng cụ thể là thấp ở đâu?

    NNC Vương Trí Nhàn: Nói đến trình độ sống của người Việt thấp tôi muốn nói đến cách ứng xử, phản ứng hiện tượng xã hội của người Việt từ trước đến nay có cái gì đó nông nổi, không suy xét kỹ càng cứ lu loa cho to chuyện lúc đó sau lại thôi. Trình độ sống thấp còn thể hiện ngay trong việc cắt nghĩa những giá trị cuộc sống đơn giản như thế nào là một gia đình? Dạy con thế nào?…Tôi cược rằng bây giờ hầu hết ông bố bà mẹ trẻ không biết dạy con và dạy như thế nào, dạy gì cho con? Họ chỉ chăm chăm đi làm kiếm tiền rồi sau đó sắm sửa cái này, cái kia cho con.

    Hay như chuyện một gia đình điều gì là quan trọng nhất? Nhiều người cũng không hiểu, cái ích kỷ của mình kiểu: “Ông ăn chả bà ăn nem”. Tôi thấy gia đình trước đây dù người vợ, người chồng có sai có lầm đường lạc lối nhưng người chồng người vợ kia vấn sẵn sàng tha thứ. Họ nín nhịn để trong ấm ngoài êm vì con để chúng có mái ấm gia đình.

    Cũng chính trình độ sống thấp nên người Việt mất đi dây thần kinh xấu hổ, trong bài báo tôi đọc thấy GS Nguyễn Lân Dũng nói đến vấn nạn tiêu cực trong lực lượng cảnh sát giao thông bây giờ. Nó là câu chuyện nói đi nói lại nhiều lần nhưng vì trình độ sống thấp vì không còn dây thần kinh xấu hố, không còn sự sĩ diện liêm sỉ nên người ta cư xử như vậy.

    - Vậy làm sao để chữa “căn bệnh” nan y này, thưa ông?

    NNC Vương Trí Nhàn: Đã là trình độ sống thì không dễ để thay đổi và cần nhiều yếu tố theo sự phát triển chung của đất nước. Để chữa “căn bệnh” không dễ và trước hết xuất phát từ gia đình, cái xã hội thu nhỏ đầu tiên. Nếu đứa trẻ sinh ra mà thấy bố mẹ chúng sẵn sầng tham lam, dối trá thì liệu chúng sẽ đi về đâu? Tôi nghĩ rằng giờ gần 100% bố mẹ khi thấy con quay cóp bài trên lớp, gian dối thi cử cũng chỉ cười nói: “Chúng mày quy cóp thế nào cho nó khéo”. Như thế vô hình chung chúng ta đã đồng tình cho sự gian dối.

    Vì vậy như tôi từng nói hiện giờ tôi chưa có phương thuốc nào đặc trị căn bệnh này, tất cả chỉ làm “căn bệnh” này thuyên giảm.

    - Có thể thực tế đúng như ông nói, vậy theo ông trước thực trạng gian dối có hệ thống như vậy thế hệ trẻ cần làm gì để không dẫm vào “vết xe” đó?

    NNC Vương Trí Nhàn: Tôi nghĩ nên chấp nhận sự thật, chấp nhận mình làm lại từ con số không như chuyện quay cóp trong thi cử, học giả bằng thật chẳng hạn… Thay vì vui mừng với tấm bằng đẹp nhờ gian dối các bạn trẻ nên làm lại bằng cách học thật dám nhìn vào thực chất vấn đề đặt ra câu hỏi cho riêng mình, đặt ra câu hỏi mình đã làm được gì? Mình đang làm gì? Và sẽ làm gì cho tương lai của chính mình…? Hơn hết theo tôi các bạn trẻ bây giờ nên cố gắng sống thật không ảo tưởng mơ mộng, nên tự lập đi bằng đôi chân của mình.

    Còn đây là link bài phỏng vấn của GS Nguyễn Lân Dũng ( nếu ai quan tâm ) :
    http://giaoduc.net.vn/Vi-khat-vong-...nguoi-Viet-ham-tien-vo-cam-hen-nhat/296341.gd
     
    Last edited: Jun 21, 2013
  14. caothai297

    caothai297 Member MBA Family

    Joined:
    Jan 4, 2013
    Messages:
    119
    Likes Received:
    1
    Trophy Points:
    16
    Current city/country:
    ha noi
    Current employer/school:
    HHS
    Undergrad major:
    Civil engineering
    MBA (intent) major/School:
    Havard
    Phim rất hay. Hồi nhỏ mình có xem hai phim này, nhưng càng lớn xem lại càng hay.
     
  15. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Đạo diễn Trần Văn Thủy: Phải đánh động dây thần kinh của xã hội

    http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/570101/phai-danh-dong-day-than-kinh-cua-xa-hoi.html

    Đạo diễn Trần Văn Thủy:

    Phải đánh động dây thần kinh của xã hội


    TTCT - Gặp lại đạo diễn Trần Văn Thủy sau gần bốn tháng tập sách Chuyện nghề của Thủy phát hành và đang được đánh giá rất cao của hội đồng chấm giải Sách hay 2013, câu đầu tiên ông nói là cho tôi gửi lời cảm ơn anh em bằng hữu ở báo Tuổi Trẻ, vì “năm 1988 khi bộ phim Chuyện tử tế của tôi sang Leipzig và được giải, không báo nào trong nước đưa tin trừ tờ Tuổi Trẻ đưa rất trang trọng”.



    Đạo diễn Trần Văn Thủy


    Vì những chuyện tôi kể rất thật

    * Vâng, thế thì sau khi phát hành tập sách Chuyện nghề của Thủy, ông và đồng tác giả Lê Thanh Dũng lại có chuyến giao lưu xuyên Việt giới thiệu sách, phía người đọc cho rằng họ thích thú hay tâm đắc những gì từ quyển sách của ông?

    - Chúng tôi nhận rất nhiều hồi âm từ bạn đọc, cả điện thoại và email cũng phải 5-7 cú một ngày. Có những chuyện cảm động như vừa rồi tôi đang ở Đồ Sơn thì có anh bạn hẹn xin chữ ký, thế là anh ấy cầm quyển Chuyện nghề của Thủy chạy từ Quảng Ninh sang Đồ Sơn, đường hiện nay cả đi và về mất 7-8 giờ chỉ để xin chữ ký, thật cảm động.

    Có hôm tôi đi từ câu lạc bộ Ba Đình ra thì có một bạn trẻ tuổi nhận ra tôi và hét lên “Ôi, chú Thủy”, hóa ra bạn đọc Chuyện nghề của Thủy không chỉ có những người lớn tuổi không thôi. Ấy là hai tác giả chúng tôi không có tài cán gì đâu, chẳng qua là vì những chuyện tôi kể rất thật và tôi kể bằng tất cả tấm lòng chân thành. Có khi điều ấy là chỗ dựa trong suy nghĩ của nhiều người nên được người ta chia sẻ.

    * Một thành viên trong hội đồng chấm giải Sách hay 2013 cho biết khi đọc Chuyện nghề của Thủy có chỗ đã khiến ông bật khóc, một thành viên khác nhận định rằng Chuyện nghề của Thủy đọc lên thấy bao nhiêu là đớn đau. Còn ông, khi lần lại câu chuyện của mình, ông có những cảm xúc như thế nào?

    - Như trong Lời nói đầu tập sách, tôi thật sự ngại ngần khi nói về mình. Mà vì hai đạo diễn người Mỹ với tôi là chỗ có nhiều ơn nghĩa, nên tôi kể câu chuyện của mình là cố gắng để giúp công trình nghiên cứu của họ. Chứ còn bản thân tôi thật sự phải nói là nếu nhâm nhi lại chuyện đời của mình thì mệt quá, mà không biết liệu rồi có trở thành đề tài cho người ta đàm tiếu không. Cho đến khi bạn Lê Thanh Dũng thuyết phục và cả nặng lời với tôi rằng những chuyện như thế này sao chỉ nói với người nước ngoài mà không chia sẻ với người trong nước.

    Sự thật tôi cũng bị cái ám ảnh là người Việt mình nhiều khi không nhẹ nhàng với nhau đâu, có cái gì như là đố kỵ, để khen ngợi ai cái gì cũng rất khó. Và tôi cũng rất ngạc nhiên là đến giờ phút này chưa có ai phàn nàn rằng chuyện này là chuyện nặng nề hay giả dối, vô tích sự, mà ai cũng xúc động và có cả người bật khóc.

    Cái này thật là tôi không chủ động được, và trước sự độ lượng như thế, tôi rất cảm động và thấy quá trình làm cuốn sách này mình cũng dò dẫm, nhút nhát quá, lúc ấy không dám chờ đợi, không thể tưởng tượng được tình cảm của mọi người dành cho cuốn sách này lại nồng hậu và ấm áp đến như vậy.

    “Không ai dạy ai trở thành nghệ sĩ được”

    * Nhiều người sau khi đọc Chuyện nghề của Thủy đều nhận thấy rằng đạo diễn Trần Văn Thủy đã dấn thân hết mình cho nghề làm phim và sẵn sàng chịu hi sinh (trong nhiều nghĩa) vì nghề nghiệp. Điều gì đã khiến ông có được sức mạnh và niềm kiên quyết theo nghề đến thế? Hiện nay, bối cảnh làm nghệ thuật có nhiều khác biệt với thời của ông, nếu phải chia sẻ với những người làm phim trẻ hiện nay, ông cho rằng những yếu tố nào thật cần thiết để họ cũng có thể dấn thân và thành công với nghề?

    - Tôi quan niệm xã hội Việt Nam hiện nay quan trọng nhất là vấn đề nhân cách
    . Khi đi trao đổi bàn bạc chuyện làm nghề với các bạn trẻ trong Nam ngoài Bắc cũng như ở nước ngoài, tôi thấy có một điều là học nghề thì biết thêm thủ pháp, còn thì không ai dạy ai để thành nghệ sĩ như Roman Karmen đã nói.

    Khi kết thúc năm năm học ở Trường điện ảnh quốc gia Liên Xô, tức là những năm học lý thuyết trước khi vào làm phim tốt nghiệp, thầy trò tề tựu với nhau, ông Karmen nhìn khắp một lượt bằng ánh mắt thân thương với 17 đứa học trò đến từ 17 quốc gia khác nhau: “Các em yêu quý, trời ơi, thế là chúng ta đã ngồi với nhau đến chừng ấy năm rồi à?

    Bằng ấy năm mà tôi chưa dạy, chưa truyền đạt cho các em được cái gì cả, bản thân tôi nếu có bày vẽ gì cho các em thì cũng chỉ là 24 chữ cái thôi, còn viết nên trang nên truyện là việc của mỗi người.

    Theo tôi, không ai dạy ai trở thành nghệ sĩ được”. Câu này đúng hay sai thì tôi không dám bình luận, nhưng đấy là lời tâm huyết của một ông thầy nổi tiếng nói với đám học trò trước khi chia tay. Nên khi tôi nói chuyện với các bạn làm phim trẻ, tôi cũng bị câu nói ấy ám ảnh, bởi vì tôi biết có rất nhiều người học nghề đấy nhưng rồi không theo nghề được.

    Nhưng có một điều nếu như anh yêu nghề, mà nếu yêu vì nó oai, vì tiếng tăm, vì nó mang lại cho mình danh lợi thì cái yêu ấy mong manh và ngắn ngủi lắm, vì khi thỏa mãn rồi thì mình không cảm thấy có thể yêu được nữa. Còn nếu như anh biết làm nghề chỉ là một phương tiện, một diễn đàn để anh trình bày cái khát khao, cái mong muốn của bản thân anh và người đời đối với cuộc đời này thì tình yêu ấy lâu bền hơn.

    Nếu anh không thiết tha với sự có ích, sự tiến bộ của xã hội, sự tốt lên của đất nước, dân tộc mình thì có lẽ anh khó có tình yêu lâu bền với nghề lắm. Bởi vì chúng ta làm nghề nghiệp này trên đe dưới búa. Sự kiểm duyệt bên truyền hình thì nhẹ nhàng, chứ còn bên điện ảnh thì kiểm duyệt trở thành vấn đề lớn lắm. Làm xong rồi được chiếu hay không cũng không phải trong tầm tay của mình.

    Nếu không có sự đắm đuối, khát khao cho sự có ích trong công việc của mình với xã hội thì không theo đuổi nghề này được.

    Và cụ thể hơn thì làm nghề không thể làm theo cảm giác chung chung, mà phải tìm ra những đề tài có ích, được rất nhiều người quan tâm. Nếu anh không đánh đúng vào dây thần kinh của xã hội thì chẳng có cách nào anh toại nguyện trong ý muốn làm các việc có ích đâu.

    Và có khi bộ phim tài liệu thành công chưa hẳn do người làm phim, mà tại cuộc đời. Nói thì có vẻ không bình thường nhưng đúng là có khi tại cuộc đời, như Hà Nội trong mắt ai bản thân nó không hay, rất “monotone”... nhưng nó nóng bỏng lên là vì cuộc đời. Cho nên khi lao theo nghề, đến mức tay nghề nhuần nhuyễn rồi, có lúc anh nhận ra phim hay không phải tại người làm phim mà tại cuộc đời.

    Nói như thế thì hơi quá thật, nhưng nói thế để các bạn đồng nghiệp trẻ “máu” lên, hướng sức lực, tâm can vào nghề. Có phóng viên nước ngoài đến tìm hiểu điện ảnh Việt Nam thường hỏi các bạn Việt Nam làm phim có khó khăn gì không, thì có đến 80-90% đạo diễn Việt Nam cho là kỹ thuật còn tồi quá, tiền bạc ít quá, thời gian chật hẹp quá, điều kiện làm việc khó khăn quá, còn tôi thì rất sợ một ông mạnh thường quân nào đấy bảo: tiền đây, máy tốt đây, phòng làm việc máy lạnh đây, mày lấy cục tiền này muốn tiêu bao nhiêu thì tiêu, miễn làm cho tao một cái phim hay.

    Tôi sợ nhất là trong đầu mình không có gì chứ không phải trong tay mình không có tiền.

    * Đọc những trang kể về việc đưa phim Chuyện tử tế sang Liên hoan phim Leipzig thấy có một mắt xích quan trọng là nhân vật tên T. vào giữa năm 1988 đã liều lĩnh tìm cho ông đầy đủ một bản phim gồm “5 cuốn, mỗi cuốn 300m nặng 2,3kg cùng với một hộp sắt; 5 cái hộp để trong một cái thùng, tất cả khoảng 20kg”. Nhìn lại chuyện đời mình, ông có kinh nghiệm gì về cách sống và ứng xử trong các mối quan hệ, để gặp cơn thắt ngặt thì có người chí tình và nghĩa hiệp giúp mình như vậy?

    - Không phải ngẫu nhiên mà Chuyện nghề của Thủy được Phương Nam in ở miền Nam đâu. Anh em bạn bè tôi trong Nam cũng nhiều. Có một người bạn như anh Lê Thanh Dũng cũng là quan trọng chứ, anh ấy mất bao công sức để quyển sách được đến bờ đến bến. Còn nói về quan niệm sống thì tôi nghĩ lại tâm trạng của chúng tôi khi đi phỏng vấn nhân vật của mình, anh ngồi sau camera đối diện nhân vật của anh, đặc biệt là khi tiếp cận với các học giả.

    Lúc làm phim Người man di hiện đại về học giả Nguyễn Văn Vĩnh với 76 cuộc phỏng vấn các học giả lớn nhất trong và ngoài nước, tôi nghiệm ra rằng nhiều khi người làm phim cũng phải có thương hiệu nào đấy mới được, thì người đối diện mới rút ruột ra mà nói với mình.

    Những người học vấn uyên thâm dễ khi không mà nói với anh đâu, phải có tấm lòng, phải có sự cảm thông nào đó chứ. Cho nên với những con người như thế, muốn họ chia sẻ, bày vẽ, chỉ bảo anh thì có lẽ quan trọng nhất là cùng cảm thông, cùng tấm lòng khát khao mong muốn, cùng có lòng tin vào điều gì tốt đẹp hơn.


    Chả có cái gì là bí quyết, tôi thì rất sợ sản phẩm mình làm ra không xứng đáng với những gì người ta đã giúp đỡ, đã tận tình với mình.


    Tôi có viết rằng điều đáng sợ nhất là trong đầu mình không có gì cả, trong trái tim mình không yêu ghét gì cả, không rung động trước cái gì cả. Điều này còn lệ thuộc vào nhân cách và bản lĩnh mỗi người. Cho nên các bạn làm phim phải làm sao tìm những đề tài an ủi và thức tỉnh con người. Một bộ phim hay không thể nào không thật được, một bộ phim hay nhất thiết phải đi từ thân phận con người. Tôi đố bạn tìm đâu một tác phẩm trở thành kiệt tác đông tây kim cổ mà không bắt đầu từ thân phận con người” - đạo diễn Trần Văn Thủy.
     
  16. caothai297

    caothai297 Member MBA Family

    Joined:
    Jan 4, 2013
    Messages:
    119
    Likes Received:
    1
    Trophy Points:
    16
    Current city/country:
    ha noi
    Current employer/school:
    HHS
    Undergrad major:
    Civil engineering
    MBA (intent) major/School:
    Havard
    Phim bác Thủy hay mà người cũng hay lắm. Mình cũng gặp bác Thủy tại lễ trao giải Sách hay 2013, rất ấn tượng.
     
  17. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    http://thethaovanhoa.vn/dien-dan-va...hung-ta-bot-tu-te-hon--n20140117175213044.htm

    húng ta sung túc lên, chúng ta bớt tử tế hơn (?!)
    17/01/2014 18:00

    (Thethaovanhoa.vn) - “Giờ, chúng ta sung túc lên song sự tử tế lại ít hơn. Thậm chí, khi nghe những tin bác sĩ ném xác bệnh nhân, bảo mẫu đánh đập trẻ, tôi cũng hoang mang và đôi lúc, chẳng còn tin vào sự tử tế nữa!”- Đạo diễn Trần Văn Thủy, tác giả của bộ phim “Chuyện tử tế”, nói như buông xuôi trong buổi tọa đàm “Sự tử tế - Sau 30 năm” tại Manzi Art Space hôm qua (16/1).

    1. Trần Văn Thủy có dẫn chứng về một bộ phim ông làm năm 1992. Bộ phim do đài NHK của Nhật tài trợ 100% với một yêu cầu duy nhất: ông hãy làm một bộ phim soi thấu hồn cốt Việt.

    Trần Văn Thủy chuyển tải những điều trên qua câu chuyện về làng gốm Phù Lãng. Trong phim, ông kể về một làng quê nghèo, rất nghèo. Nhưng ở đó, con người sống với nhau bằng tình làng, nghĩa xóm. Ở đó, những chuyện tử tế cứ nảy nở và sinh sôi mà chẳng cần con người gọi tên hay gắng hô hào thực hiện. Ở đó, chỉ có người và người.

    Khi nghiệm thu, người Nhật đã rưng rưng và thốt lên: “Đây là câu chuyện cổ tích giữa đời. Trước đây, cha ông chúng tôi cũng đã từng nghèo như này và hơn thế này. Chúng tôi cũng trao gửi cho nhau những điều tử tế tương tự. Còn giờ, kinh tế đã nhảy vọt, nhưng tình người chẳng còn như xưa”.

    Trần Văn Thủy thở dài: “Và tôi nghĩ, mâu thuẫn muôn thủa giữa giá trị vật chất và những giá trị tinh thần cũng đang xảy ra ở Việt Nam”.

    Giơ hai bàn tay lên như thể bất lực, Trần Văn Thủy nói tiếp: Tôi sốt ruột lắm! Đôi bàn tay này đã từng chôn xác bao đồng đội giữa rừng. Đôi bàn tay này đã lặn lội vượt khó trăm bề để "Chuyện tử tế" ra đời. Song xã hội hòa bình hiện đại với nhịp sống gấp gáp đang khiến tử tế trở thành cụm từ sáo rỗng và xa xỉ!”.


    Đạo diễn Trần Văn Thủy trong buổi trò chuyện "Sự tử tế- Sau 30 năm" (Ảnh: Phạm Mỹ)

    2. Tất nhiên, quan điểm của ông đạo diễn giàu chính kiến (tới mức cực đoan- như ông tự nhận) không được nhiều người trong khán phòng hôm ấy đồng tình. “Thời chiến và hậu chiến, cả xã hội như một thước phim đen trắng. Mọi sự sống- chết, trắng- đen, tốt- xấu rất rạch ròi. Còn giờ, xã hội là thước phim màu với vô số kỹ xảo. Mọi thứ đều phức hợp và khó phân định. Tất cả chúng ta ngồi đây đều có phần tử tế và không tử tế. Nên đạo diễn Trần Văn Thủy và những người cùng thế hệ ông bị ngợp là dễ hiểu”- Một khán giả trao đổi.

    Luận điểm này có muôn vàn ví dụ trong cuộc sống hiện đại. Một người mẹ chửi bới cả phiên tòa vì xử bắn con bà trong vụ chặt tay cướp SH hẳn nhiên là một người không tử tế với những người làm đúng chức phận ở phiên tòa. Nhưng bà là một người mẹ tử tế, thương yêu đứa con tới tận cùng.

    Hay tên sát nhân giết người bỏ trốn là kẻ tội đồ của toàn xã hội. Song hành động đầu thú của y để người bị án oan 10 năm được trả về gia đình là một hành động bắt đầu cho sự tử tế.

    3. Quay lại với kết luận của ông đạo diễn gạo cội: Vậy sau 30 năm, còn không những câu chuyện tử tế trắng tinh, chưa băng hoại, không pha tạp?

    Có lẽ câu chuyện của diễn giả Thu Hà trong buổi nói chuyện hôm qua đã trả lời tất cả. Chị Thu Hà kể: Cách đây vài năm, tôi có tìm về ngôi nhà có người mẹ bị phong trong phim Chuyện tử tế. Người đàn bà đã từng dùng đôi tay bị bào mòn vì bệnh phong đau đớn, đóng đủ số gạch cho cậu con trai xây nhà. Bà còn phải làm âm thầm đêm đêm vì nếu bà về vào ban ngày, dân làng nhìn thấy, con trai bà sẽ bị quy kết là con của người hủi.

    Nay, bà đã vượt qua bạo bệnh. Điều tiếng làng xóm cũng không còn. Hai mẹ con sống vui trong ngôi nhà được làm từ đôi bàn tay cụt ngủn của người hủi khi ấy.

    Bà không biết câu chuyện cổ tích đời mình được lên phim. Và ngay giữa thế kỷ 21, bà vẫn không coi việc làm của mình là điều gì tử tế như lời bình sắc sảo của đạo diễn Trần Văn Thủy. Bà chỉ trả lời: “Bất cứ người mẹ, bất cứ con người nào cũng sẽ làm như tôi nếu trong tình cảnh ngặt nghèo khi ấy”.

    Có lẽ, sự tử tế đơn giản chỉ là khi ta nghĩ mình là con người và có lòng tự tôn với hai từ thiêng liêng ấy. Đó là những điều luôn tồn tại và không thể pha tạp, 30 năm hay 300 năm sau vẫn vậy.

    Phạm Mỹ
    ...................

    PS. Tôi thấy có lẽ mượn đoạn xét nghiệm máu dân tộc Việt thời hiện tại của nhà thơ Nguyễn Duy để minh họa một vài ý trên được ?:

    " Trích một giọt máu thường xét nghiệm

    Tí trí thức, tí thợ cày, tí điếm

    Tí con buôn, tí cán bộ, tí thằng hề

    Phật và ma mỗi thứ một tí ti..."


    http://vietbao.vn/Van-hoa/Nha-tho-Nguyen-Duy-Du-o-dau-to-quoc-van-trong-long/45122457/181/

    http://www.thica.net/2009/08/31/nhin-từ-xa-tổ-quốc/
     
  18. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    http://thethaovanhoa.vn/xa-hoi/chuyen-tu-te-van-hot-sau-30-nam-n20140118073817970.htm

    'Chuyện tử tế' vẫn 'hot' sau 30 năm
    18/01/2014 07:24


    (Thethaovanhoa.vn) - Diễn ra tối 16/1 tại Manzi Art Space (Hà Nội), buổi trò chuyện với chủ đề Sự tử tế - Sau 30 năm dài gần 3 giờ, khán phòng chật cứng người. Buổi nói chuyện với sự tham gia của các diễn giả: ĐD-NSND Trần Văn Thủy, nhà giáo Phạm Toàn, nhà báo Thu Hà, MC Giang Đặng…

    1. Cách đây đúng 30 năm, bộ phim Chuyện tử tế được sản xuất. Khi bộ phim ra mắt, lần đầu tiên, khán giả xếp hàng dài trước rạp để mua vé xem một bộ phim tài liệu.

    Buổi trò chuyện với nhiều nội dung như: cái chết, sự sống, đạo đức và niềm tin trong suốt 30 năm dặm dài của đất nước. Cũng vì vậy, cuộc trò chuyện đôi khi bị sa đà, ngắt quãng và các vấn đề cũng không thật được giải quyết rốt ráo. Thậm chí, ngay cả câu hỏi trở đi trở lại trong bộ phim 30 năm trước, các học giả, người trẻ Thủ đô vẫn không tìm được câu trả lời cụ thể.

    Lâu lắm rồi, mới có một buổi trò chuyện thu hút công chúng Thủ đô đến vậy. Ảnh: Viết Tuân

    “Vấn đề đầu tiên của chúng ta là phải thống nhất khái niệm. Vậy thế nào là sự tử tế?”- nhà giáo Phạm Toàn buông câu hỏi đầy trăn trở.

    Đạo diễn Trần Văn Thủy trả lời cũng na ná như nội dung ông nói trong phim cách đây 30 năm. Nhưng GS Chu Hảo lại cho rằng: “Từ “tử tế” Trần Văn Thủy muốn truyền tải trong phim không tương đồng với từ “tử tế” trong từ điển Hán -Việt của Đào Duy Anh. Vấn đề anh Thủy muốn chuyển tải thuộc phạm trù đạo đức và nó vượt xa phạm vi của đôi bàn tay khéo léo, tỉ mẩn”.

    2. Những diễn giả đa phần là những người có tuổi. Nội dung chính của cuộc trò chuyện cũng về một bộ phim “có tuổi”. Nên, phần nhiều thời gian của buổi nói chuyện là hồi cố, rồi so sánh quá khứ với thực tại, thực tại với tương lai...

    “Những năm 1980, chúng ta khốn khó lắm, các bạn trẻ ạ. Nhưng ngày ấy, con người sống có niềm tin. Cũng vì thế, sự tử tế của con người dành cho nhau cũng nhiều hơn. Còn giờ, chúng ta sung túc lên, song sự tử tế lại ít đi” - đạo diễn Trần Văn Thủy nói.

    Buổi tọa đàm dần khép lại khi các diễn giả cùng khán giả đều thống nhất, tử tế trong mỗi con người cũng như xã hội là một tiến trình. Đôi lúc, nó sẽ bị khuất lấp bởi những giá trị khác, nó bị thử thách bởi khúc quanh của lịch sử, song nó luôn tồn tại nếu như trong cộng đồng đó có những người bền bỉ nuôi dưỡng nó.

    “Tử tế, các nhà làm phim thân mến ạ! Gốc của nó là từ chữ Hán, có nghĩa là những chuyện nhỏ bé, những chuyện bình thường. Lâu đời ta đọc khác đi và nghĩa cũng khác đi. Sự tử tế, tử tế thật sự không phải là chuyện có tiền hoặc muốn là có ngay. Nó cũng phải học hành, được dạy dỗ, được tập luyện, kế thừa và gìn giữ. Tử tế như hoa thơm, hoa đẹp, không thể thiếu được của cuộc đời” (lời nhân vật trong phim Chuyện tử tế của Trần Văn Thủy).

    Phạm Mỹ
    Thể thao & Văn hóa
     
  19. darren1010

    darren1010 Nominee - Gold member of the year 2009 MBA Family

    Joined:
    Jun 17, 2007
    Messages:
    1,066
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    Atlanta
    Current employer/school:
    Emory University
    Undergrad major:
    IT
    MBA (intent) major/School:
    Emory University
    Khoa có đọc quyển "Chuyện nghề của Thuỷ" của bác. Rất hay và chân thành. Highly recommend các bạn đọc để biết thêm về 1 thời quá khứ của nước mình.
     
  20. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,784
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Nếu không đọc, nghiền ngẫm để hiểu cho được quá khứ, bạn sẽ không thể thức sự thấu hiểu được tương lai ? "Chuyện nghề của Thủy" là quyển sách thú vị nên đọc và suy ngẫm.

    Có lẽ lịch sử cũng đã minh chứng tại sao chúng ta chưa bao giờ quan tâm đầy đủ đến lịch sử và ngành lịch sử , cũng như tầm quan trọng của ngành này. Cuôc chiến Việt Nam hẳn đã khác nếu nươc Mỹ hiểu hơn về văn hóa, và lịch sử dân tộc Việt Nam ?

    Trong một bài phỏng vấn sau khủng hoảng 2008, trong một trong những phỏng vấn cuối cùng trước khi mất mà công chúng được tiếp cận, Paul Samuelson, người đầu tiên nhận Nobel về kinh tế năm 1970, có nói đến tầm quan trọng của việc nghiên cứu lịch sử kinh tế...

    " Very last thing. What would you say to someone starting graduate study in economics? Where do you think the big developments in modern macro are going to be, or in the micro foundations of modern macro? Where does it go from here and how does the current crisis change it?

    Well, I'd say, and this is probably a change from what I would have said when I was younger: Have a very healthy respect for the study of economic history, because that's the raw material out of which any of your conjectures or testings will come. And I think the recent period has illustrated that. The governor of the Bank of England seems to have forgotten or not known that there was no bank insurance in England, so when Northern Rock got a run, he was surprised. Well, he shouldn't have been.

    But history doesn't tell its own story. You've got to bring to it all the statistical testings that are possible. And we have a lot more information now than we used to...
    ."

    http://www.theatlantic.com/politics/archive/2009/06/an-interview-with-paul-samuelson-part-one/19572/

    http://www.theatlantic.com/politics/archive/2009/06/an-interview-with-paul-samuelson-part-two/19627/
     
    Last edited: Jan 20, 2014

Share This Page