1. Forum VietMBA đã được nâng cấp lên version mới. Mọi thông tin, báo lỗi và góp ý xin vui lòng post tại topic ⚠ Thông báo nâng cấp forum và danh sách các vấn đề phát sinh.

New to MBA? - Read here first

Discussion in 'TƯ VẤN' started by Hqta, Jan 2, 2007.

Thread Status:
Not open for further replies.
  1. Hqta

    Hqta Member MBA Family

    Joined:
    Sep 28, 2006
    Messages:
    621
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Current city/country:
    Philadelphia/PA
    Current employer/school:
    Drexel University
    Undergrad major:
    Economics
    MBA (intent) major/School:
    Finance
    Kinh nghiệm xin học MBA
    Thái Thị Thanh Mai (http://www.maithai.org)

    1. Khi nào bạn nên đi học MBA?
    1.1. Bạn cần thăng tiến trong lĩnh vực quản lý kinh doanh bạn đang làm:

    Nếu bạn đã có nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực quản lý kinh doanh thì tấm bằng MBA từ cơ sở đào tạo tốt có thể giúp bạn thăng tiến. Trong quá trình học MBA, bạn sẽ được học những môn giúp bạn bồi bổ thêm kiến thức và nâng cao vốn hiểu biết về kinh doanh.

    1.2. Bạn cần một chứng chỉ hành nghề:

    Với một số ngành như là phân tích tài chính, tư vấn quản lý, v.v., tấm bằng MBA là cần thiết để được vào làm bộ phận quản lý. Những ngành này có tính cạnh tranh rất cao nên để thăng tiến bạn cần phải vượt trội hơn những người có tham vọng như mình và chứng minh được rằng mình có khả năng lãnh đạo. Điều này có nghĩa là bạn phải có kiến thức về các phương thức quản lý và hiểu được phạm vi áp dụng của lý thuyết vào thực tế. Trong quá trình học MBA, bạn sẽ học cách tự tìm và định hướng phát triển cũng như tự đánh giá bản thân, rèn luyện khả năng phối hợp làm việc, và học về đạo đức kinh doanh. Một chương trình MBA tốt sẽ tạo rất nhiều điều kiện để bạn được cọ sát với thực tế kinh doanh.

    1.3. Bạn cần một chất xúc tác để đổi nghề:

    Nếu công việc hiện tại của bạn không phải là kinh doanh hay quản lý mà bạn lại muốn chuyển sang lĩnh vực này thì MBA có thể giúp bạn bước chuyển tiếp. Chương trình MBA sẽ mở ra cho bạn cách nhìn nhận các vấn đề cũ theo cách mới. Trong qúa trình học bạn sẽ được rèn luyện kỹ năng lãnh đạo thông qua teamwork (làm việc theo nhóm), case studies (nghiên cứu tình huống), và cọ sát với công việc quản lý thực tiễn.

    1.4. Bạn muốn trở thành chủ doanh nghiệp:

    MBA sẽ trang bị cho bạn kiến thức nền tảng để tự mở kinh doanh. Bên cạnh các kiến thức cơ bản đó, theo học chương trình MBA sẽ cho bạn các mối quan hệ với các sinh viên MBA khác, họ cũng chính là những người đã, đang, và sẽ hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh. Bạn cũng sẽ xây dựng được các mối quan hệ quý báu với giới kinh doanh thông qua những sinh viên này cũng như hội cựu sinh viên của trường và các mối kinh doanh mà trường giới thiệu.

    2. Các chuyên ngành mà bạn có thể chọn
    2.1. Accouting ̣(kế toán)

    Bạn sẽ học về làm sổ sách và báo cáo tài chính cho công ty. Nhiệm vụ của kế toán viên là cung cấp thông tin tài chính của công ty cho những người quan tâm. “Financial accouting” (kế toán tài chính) cung cấp thông tin cho những người ngoài công ty (ví dụ như là cơ quan thuế, cổ đông, v.v ) còn “managerial accouting” (kế toán quản lý) thì cung cấp thông tin nội bộ cho những nhà quản lý của công ty để giúp họ đưa ra quyết định về vận hành và phát triển công ty.

    Ngành này đòi hỏi ở bạn đức kiên trì, sự yêu thích các con số, và tính chính xác cao.

    2.2 Finance (tài chính)

    Bạn sẽ được học làm thế nào để đầu tư vào real assets (ví dụ như đầu tư vào nhà đất, v.v.) và financial assets (ví dụ như đầu tư vào ngân hàng, thị trường chứng khoán) và quản lý các khoản đầu tư đó cũng như cách quản lý các luồng tiền tệ ra và vào công ty.

    Ngành này đòi hỏi ở bạn kiến thức tư duy toán học cao và sự hiểu biết tốt về kinh tế học.

    2.3. Human resource mangement (quản trị nhân lực)

    Bạn sẽ được học làm thế nào để quản lý và khuyến khích nhân viên làm việc hết sức mình và đem lại hiệu quả cao nhất cho công ty.

    Ngành này đòi hỏi ở bạn khả năng đắc nhân tâm và kỹ năng giao tiếp quần chúng.

    2.4. Information management (quản lý thông tin)

    Bạn sẽ được học làm thế nào để quản lý thông tin và sử dụng chúng một cách hiệu quả trong kinh doanh.

    Ngành này đòi hỏi ở bạn hiểu biết về hoạt động kinh doanh của công ty, tư duy logíc, khả năng phối hợp làm việc với các bộ phận khác của công ty, và sự đam mê các công nghệ thông tin ví dụ như máy tính, intranet, internet, firewall, các chương trình phần mềm ứng dụng, v.v.

    2.5. Marketing (tiếp thị)

    Bạn sẽ được học làm thế nào để tiếp cận và đưa sản phẩm và dịch vụ của công ty đến cho khách hàng. Như vậy bạn sẽ học về phân tích thị trường, tìm kiếm khách hàng mới, giữ khách hàng cũ, quyết định giá bán hàng, phương thức tiếp thị, v.v.

    Ngành này đòi hỏi ở bạn tính sáng tạo cao, khả năng thích ứng cao với môi trường, và kiến thức tốt về human psychology (tâm lý học con người) cộng với sự đam mê giao tiếp xã hội.

    2.6. General management (quản lý)

    Nếu bạn chọn học “general managment” thì tức là bạn sẽ không chuyên sâu về lĩnh vực nào hết mà sẽ được học tất cả các môn ở mức độ chung chung. Ngành học này phù hợp với những ai muốn làm “senior managment” như là CEO (chief executive officer) v.v. hay là muốn mở công ty riêng.

    Ngành này đòi hỏi ở bạn tư duy logíc, tư duy chiến lược, tính can dảm dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm, sự nhạy bén, và hơn cả là máu làm doanh nghiệp.

    2.7. International Business

    “International business” là một khái niệm rất rộng. Đây là ngành học giành cho những người muốn làm ở các công ty đa quốc gia mà trong công việc có đụng chạm đến yếu tố nước ngoài hoặc làm việc trên thị trường quốc tế. Trong “international business” bạn cũng có thể đi sâu vào một trong các lĩnh vực hẹp từ 2.1 đến 2.6. Ví dụ khi bạn muốn làm cho bộ phận xuất khẩu của một công ty thì bạn nên chọn học “marketing” trong “international business”.

    3. Tìm trường học MBA
    Để tìm được trường phù hợp thì trước hết bạn cần hiểu rõ mình theo học MBA vì mục đích gì và tìm hiểu xem trường nào có thể cung cấp cho bạn cái bạn cần. Bạn cũng cần phải xác định rõ là đi học chính là đầu tư công sức, thời gian, và tiền bạc để lấy kiến thức phục vụ cho công việc tương lai chứ đừng coi nó là một chuyến đi chơi du lịch hay coi việc lấy được tấm bằng là mục đích. Có bằng MBA mà không làm được việc thì thà đừng có còn hơn. Chỉ có kiến thức và khả năng networking mới có thể giúp bạn làm việc thành công.

    Khi xác định được rằng mình đi học vì mục đích rõ ràng thì sau đây là một số tiêu chí để bạn cân nhắc:

    3.1. Xếp hạng (ranking) của trường:

    Chỉ dựa vào chỉ số xếp hạng của trường (bạn có thể tìm thấy ranking của các trường trên www.usnews.com, www.businessweek.com, www.mbainfo.com, www.ft.com, v.v.) không thể cho bạn biết được liệu trường đó có chương trình phù hợp với bạn hay không. Ranking chỉ cho bạn một cái nhìn chung chung tổng quát về trường chứ không cho bạn biết thực tế chất lượng của từng chương trình cụ thể. Nó cũng không thể cho bạn biết là liệu nó thể đem lại cho bạn các mối quan hệ (network) mà bạn cần hay không. Vì vậy bạn chỉ nên coi ranking như là một thông tin để tham khảo chứ không nên coi nó là tiêu chí duy nhất để chọn trường.

    Tuy nhiên bạn nên chọn trường đã được kiểm định chất lượng vì MBA là một đầu tư rất lớn cho tương lai. Theo học một chương trình kém chất lượng sẽ không đem lại cho bạn kiến thức, kỹ năng, hay các mối quan hệ cần thiết để thành công trông tương lai. Bất cứ trường nào cũng đều cố gắng đánh bóng tên tuổi của mình để chiêu sinh. Ở Mỹ có rất nhiều tổ chức kiểm định chất lượng nhưng duy chỉ có The Association To Advance Collegiate School of Business (http://www.aacsb.edu) mới là tổ chức có uy tín. Những trường nào không được tổ chức này công nhận thì thường không có chất lượng tốt.

    3.2. Chương trình học (curriculum)

    Vi ̀ bạn theo học MBA có mục đích rõ ràng, bạn cần tìm chương trình có khả năng phục vụ mục đích đó một cách tốt nhất. Bạn muốn tương lai sẽ làm gì sau khi học xong MBA thì chọn chương trình mà trường có thế mạnh nhất.

    Nếu bạn muốn theo hoc MBA để chuẩn bị cho việc mở công ty kinh doanh riêng sau này thì nên lựa chọn chương trình nào nhấn mạnh về đào tạo doanh nhân (có nhiều môn về “entrerpreneurship”, “new venture management”, “small business managment”, etc.). Tương tự như vậy, nếu bạn muốn trở thành nhà phân tích tài chính thì nên chọn chương trình nhấn mạnh vào các môn tài chính, vân vân và vân vân.

    Để biết được trường có thế mạnh về lĩnh vực nào thì vào website của khoa business và xem curriculum (các môn mà trường dạy), professor profile (sơ yếu lý lịch của giáo viên về ngành học và các công trình nghiên cứu của giáo viên đó), alumi activities (các hoạt động của cựu sinh viên của trường), business connection (mối quan hệ của trường với các doanh nghiệp), v.v.

    3.3. Networking:

    Không ai có thể làm kinh doanh hay quản lý mà không cần đến quan hệ. Nếu bạn muốn làm gì sau khi học xong MBA thì tìm trường tập trung nhiều người đã, đang, và sẽ hoạt động trong lĩnh vực mình quan tâm. Để biết thông tin này thì bạn nên tìm hiểu ở mục “student profile”, “alumni organization”, và “professional centers” của trường.

    3.4. Dịch vụ tìm việc làm:

    Nếu bạn không biết sau khi học xong MBA thì mình sẽ đi đâu để kiếm việc làm thì nên chọn trường có cách chương trình dịch vụ giúp sinh viên kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Rất nhiều trường có dịch vụ giúp sinh viên kiếm việc trên phạm vi toàn cầu. Thường sinh viên Việt nam mình quay về nước sau khi học nên cái này có lẽ không quá quan trọng. Nếu bạn muốn kiếm việc làm ở nước ngoài thì cũng nên quan tâm đến tiêu chí này.

    3.5. Địa điểm của trường và chất lượng cuộc sống

    Dù sao thì khi học MBA bạn cũng bỏ ra 1-2 năm trong quãng đời của mình ở trường bạn học nên ngoài kiến thức ra bạn cũng muốn có ký ức đẹp sau khi ra trường. Địa điểm của trường có thể quyết định các yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn như là thời tiết khí hậu, giá cả sinh hoạt, hoạt động xã hội v.v.

    4. Yếu tố quyết định cơ hội bạn được chấp nhận vào trường bạn chọn
    Có rất nhiều trường tốt mà bạn thích nhưng chưa chắc người ta đã nhận bạn vì số lượng người xin học luôn luôn cao hơn số xuất mà trường có. Do vậy bạn cần đánh giá đúng khả năng của mình đến đâu so với yêu cầu của trường. Trường đánh giá khả năng của bạn theo những tiêu chí sau:

    4.1. Học lực

    Trường sẽ nhìn vào điểm đại học của bạn để đánh giá sức học của bạn so với bạn bè cùng lứa ở trường của bạn. Điểm khá hay giỏi của bạn chỉ thể hiện là bạn có sức học tốt hơn so với bạn bè cùng lứa ở trường của bạn chứ không thể hiện sức học của bạn so với sinh viên ở trường khác và nước khác. Nếu trường bạn định xin đã có nhiều sinh viên đến từ trường của bạn thì người ta sẽ căn cứ vào thống kê giữa sức học của các sinh viên đó ở trường hiện tại so với điểm số của họ khi học ở trường của bạn để dự đoán sức học của bạn nếu được chấp nhận vào trường. Vì thế nên nếu nhiều sinh viên được điểm giỏi của trường bạn vào học ở trường đó lại học kém thì người ta cũng không quan tâm lắm vào bảng điểm của bạn nữa. Ngược lại, nếu những sinh viên được điểm trung bình ở trường của bạn vào học trường đó học rất tốt thì nếu bạn chỉ được điểm trung bình của trường bạn cũng không phải là trở ngại trong việc bạn xin học.

    Vì mỗi trường có tiêu chuẩn chấm điểm riêng và chất lượng học sinh không giống nhau nên người ta cần xem xét đến điểm GMAT của bạn để đối chiếu bạn với các sinh viên trường khác khi xem xét hồ sơ của bạn. Điểm GMAT sẽ càng quan trọng khi trường bạn định xin vào chưa có ai từng học ở trường mà bạn đã học.

    4.2. Kinh nghiệm và triển vọng thành công trong công việc

    Chất lượng sinh viên ra trường có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của trường nên người có triển vọng tốt khi ra trường sẽ tạo tiếng tốt cho trường. Để đánh giá được liệu bạn có khả năng thành công trong tương lai hay không, người ta nhìn vào những gì bạn đã và đang làm, khả năng tạo network (thông qua letter of recommendation - thư giới thiệu - người ta có thể phán đoán xem bạn có khả năng lập quan hệ với ai và mức độ thân cận của mối quan hệ đó như thế nào), khả năng thuyết phục và marketing (thông qua statement of purpose - thư xin học).

    Trong các lớp MBA thi việc làm case studies (giáo viên đưa ra tình huống và học viên trao đổi kinh nghiệm và ý tưởng xem trong trường hợp và bối cảnh nào thì nên làm thế như thế nào là tốt nhất) chiếm tỷ trọng khá cao. Phương thức này thường có hiệu quả cao khi các học viên có kinh nghiệm làm việc lâu năm và các học viên không có kinh nghiệm giống nhau. Vì vậy hội đồng tuyển chọn sẽ cố gắng đa dạng hóa thành phần học viên. Điều này có nghĩa là bạn có thể được nhận học chỉ vì bạn có kinh nghiệm làm việc mà các thí sinh khác không có trong khi các tiêu chí khác (như là GMAT, GPA..) của bạn không hẳn là đã cao. Tuy nhiên chỉ có người trong hội đồng tuyển sinh mới biết được năm nào họ thiếu thí sinh trong lĩnh vực nào. Vì vậy lời khuyên tốt nhất cho bạn là hãy nhấn mạnh vào khả năng đóng góp xây dựng bài cho lớp học thông qua thư xin học (statement of purpose) của bạn.

    4.3. Khả năng trình bày

    Trong quản lý và kinh doanh thì khả năng thuyết phục là vô cùng quan trọng. Muốn bán được hàng thì trước hết bạn phải biết cách hấp dẫn và thuyết phục được khách hàng của mình là hàng của mình ưu việt hơn các hàng khác. Muốn lãnh đạo thì bạn phải thuyết phục được người khác tin và làm theo ý mình. Để thuyết phục bạn cần phải biết trình bày ý tưởng của mình bằng văn bản (người ta nhìn vào statement of purpose - thư xin học – của bạn để đánh giá) cũng như qua diễn thuyết (cái này người ta sẽ kiểm tra qua lần interview - phỏng vấn bạn). Tuỳ theo ngành bạn chọn (ví dụ như accouting) mà có thể trường không chú trọng lắm vào khả năng diễn thuyết. Tuy nhiên dù ngành nào thì bạn cũng phải biết viết tốt.

    4.4. Tư chất

    Mỗi ngành nghề đều đòi hỏi bạn cần có một số tố chất nhất định. Người ta sẽ nhìn vào SOP, LOR, và CV của bạn cũng như qua interview để phán đoán xem tư chất của bạn có phù hợp với ngành bạn chọn hay không. Ví dụ nếu bạn muốn theo chuyên ngành accounting mà lại thể hiện mình là người có tính sáng tạo cao nhưng lại thiếu kiên nhẫn thì khả năng được chấp nhận vô cùng thấp. Cũng vậy nếu bạn muốn theo ngành human resource management mà lại thể hiện là mình ít giao tiếp và ít hoạt động xã hội thì bạn không phải là người có tố chất để thành công trong ngành này.

    5. Vấn đề tài chính để theo học một khóa MBA

    5.1. Xin học bổng
    Chi phí học MBA thường là rất lớn, đặc biệt là đối với mức thu nhập ở Việt Nam. Nếu bạn có sức học tốt và có khả năng thuyết phục thì bạn nên mạnh dạn tìm kiếm học bổng hoặc là trợ giúp tài chính từ phía nhà trường và các công ty. Tuy nhiên bạn cũng nên xác định là xin học bổng học MBA khó hơn rất nhiều so với học các ngành khác. Lý do la sau khi tốt nghiệp MBA bạn sẽ có khả năng thu nhập cao hơn hẳn so với nếu bạn học các ngành khác và như vậy người ta sẽ cho rằng bạn hoàn toàn có thể trang trải cho việc hoc MBA nay, kể cả nếu bạn không có tiền ngay bây giờ nhưng khả năng trả nợ của bạn rất cao. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là không có cơ hội. Dưới đây liệt kê một số nguồn hỗ trợ tài chính mà bạn có thể tham khảo.

    5.1.1. Trợ giúp tài chính từ phía nhà trường:
    Tất cả các chương trình MBA (và hầu hết các cơ sở giáo dục của Mỹ) đều hoạt động như các doanh nghiệp. Đây là những doanh nghiệp đặc biệt vì họ bán educational services (dịch vụ giáo dục). Như vậy họ cũng cho “discounts” (giảm giá) cho một số khách hàng bằng hình thức tuition waiver (miễn giảm học phí), cho “rebates” (hoàn trả một phần tiền) bằng hình thức scholarship (học bổng), và có thể cấp “coupons” (phiếu mua hàng miễn phí) cho một số khách hàng đặc biệt bằng hình thức fellowship (học bổng danh dự).
    - Trường cho “discounts” cho những đối tượng nào? Doanh nghiệp nào cũng cần phải phân đoạn thị trường để xác định giá bán hàng. Với khách hàng có khả năng chi trả cao và không quá nhạy cảm với giá cả thì doanh nghiệp sẽ đòi giá cao, còn nếu khách hàng có khả năng chi trả thấp và/hoặc nhạy cảm với giá cả thì doanh nghiệp sẽ hạ giá xuống thấp hơn để thu hút khách hàng. Hạ thấp đến đâu thì tùy theo giá sản xuất (bao gồm tiền lương cho giáo viên và nhân viên của trường, tiền quảng cáo tiếp thị, tiền trang thiết bị trường học, v.v.). Do vậy, với những người đạt yêu cầu admission của trường rồi thì trường sẽ lẩy những người có khả năng chi trả cao nhất rồi hạ dần xuống đến những người có khả năng chi trả thấp hơn và cho tới khi nào đủ số sinh viên cho khoá học thì thôi. Vì thế cơ hội bạn được “discount” từng nào sẽ tuỳ thuộc vào application pool (những người cùng xin học) của năm bạn xin học. Nếu số người đạt yêu cầu của trường và có khả năng chi trả bằng hoặc lớn hơn với số xuất trường có thể đáp ứng thì bạn không có cơ hội được “discount”.
    - Trường cho “rebates” cho những đối tượng nào? “Rebate” cũng là một phương thức hạ giá. Nó khác với “discount” ở chỗ “discount” là hạ giá tại chỗ còn “rebate” nó cho phép doanh nghiệp sử dụng số tiền thu được từ khách hàng (với trường là tiền học phí) một thời gian trước khi hoàn trả lại (với trường thì họ sẽ cấp học bổng sau khi sinh viên đã nhập học). Lý do và nguyên tắc cho “rebate” cũng giống như cho “discount” đã nói ở phần trên.
    - Trường cho “coupons” cho những đối tượng nào? Doanh nghiệp nào cũng cần phải có bằng chứng về chất lượng sản phẩm/dịch vụ của mình để quảng cáo. Trường cần phải có ít nhất một vài sinh viên ưu tú, người mà khi ra trường chắc chắn sẽ thành công, để chứng minh là dịch vụ đào tạo của họ tốt. Vì thế họ cho “coupons” để hấp dẫn những đối tượng này. Mặt khác trường cũng muốn giảm chi phí vận hành nên đều muốn có một số sinh viên hạt nhân làm khuấy động không khí học tập và các hoạt động của trường. Vì vậy để kiếm được “coupons”, bạn cần phải chứng minh được là mình thuộc nhóm các đối tượng này. Trường cho được bao nhiêu “coupons” và giá trị của mỗi “coupon” phụ thuộc vào khả năng tài chính của trường nên trường càng lớn thì số “coupons” càng nhiều. Ngoài ra nguồn tài chính cho những “coupons” này cũng đến từ các tài trợ cá nhân, công ty, sinh viên cũ của trường, v.v. Với những “coupons” sẵn có, trường sẽ phân phối cho những người có khả năng nhất rồi hạ dần xuống cho đến khi hết “coupons” thì thôi. Do vậy cơ hội bạn được “coupon” từng nào sẽ tuỳ thuộc vào application pool (những người cùng xin học) của năm bạn xin học.
    Và cũng như các doanh nghiệp, các trường đều muốn giảm chi phí hoạt động nên họ sẽ thuê một số sinh viên làm graduate assistants (những người làm việc hành chính), teaching assistants (những người làm trợ giảng), hoặc reasearch assistants (những người làm trợ lý nghiên cứu) vì đây là lực lượng có học mà giá lao động lại rẻ mạt (chỉ bằng 1/2 hoặc 1/3 giá người đi làm bình thường với trình độ tương đương). Tuy rằng là lao động rẻ mạt so với thu nhập của châu Âu và Mỹ, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với thu nhập ở Việt Nam nên kiếm được việc như vậy cũng không đến nỗi tệ lắm. Để xin các xuất này thì về nguyên tắc cũng giống như bạn xin việc làm. Cơ hội của bạn đến đâu thì tuỳ thuộc vào available jobs (nhu cầu cần người làm) và khả năng của bạn so với những người cùng xin việc như bạn.
    Tóm lại bạn cần tìm hiểu thật kỹ về trường bạn định xin và đánh giá đúng về khả năng của mình cũng như của các thí sinh khác. Bạn cũng nên vào phần student profile để so sánh mình với những sinh viên đã được hỗ trợ tài chính của trường để đánh giá cơ hội của mình và hoạch định chiến lược xin hỗ trợ tài chính của trường sao cho hiệu qủa nhất.

    5.1.2. Các quỹ cho học bổng 100% cho ngành MBA:
    Vì bạn là người Việt Nam nên có lợi thế ở chỗ các nước phát triển và các tổ chức quốc tế có dành riêng một số quỹ hỗ trợ đào tạo nhân lực cho các nước đang phát triển. Những người được nhận các học bổng này đều là những người chứng minh được là họ sẽ đem được kiến thức của mình học được ở nước phát triển về phục vụ cho quê hương của họ dưới hình thức này hay hình thức khác. Và các quỹ học bổng này đều yêu cầu sinh viên phải về nước sau khi hoàn thành khoá học.
    Dưới đây là các quỹ cho học bổng 100% cho ngành MBA mà tôi được biết (nếu bạn biết thêm quỹ nào thì xin vui lòng báo cho tôi để chia sẻ với các bạn sinh viên khác):

    Qũy học bổng ADB (Asian Development Bank): http://www.adb.org/JSP/default.asp,

    Qũy học bổng WB (World Bank): http://www.worldbank.org/wbi/scholarships/,

    Qũy học bổng IMF (International Monetary Fund): http://www.imf.org/external/np/ins/english/scholar.htm,

    Qũy học bổng Ford Foundation: http://www.fordfound.org/news/more/1...0ifp/index.cfm,

    Qũy học bổng Fulbright: http://vietnam.usembassy.gov/wwwhfabout.html,

    Học bổng Quốc tế dành cho phụ nữ (AAUW International Fellowship): http://www.aauw.org/fga/fellowships_...ernational.cfm

    5.2. Tự bỏ tiền túi hoặc đi vay
    Nếu bạn thấy mình không thuộc nhóm có khả năng được học bổng và cũng không muốn (hoặc không xin được) việc làm như đã nói ở trên thì bạn cũng có thể tính đến việc tự bỏ tiền ra đi học như phần đông các sinh viên MBA khác. Bạn nên cân nhắc kỹ giữa cái giá phải trả (bao gồm tiền học phí và chi phí cơ hội) để theo học MBA và lợi ích nó mang lại (ví dụ như mức thu nhập trước và sau khi học MBA). Nếu thẩy lợi ích nó mang lại thực sự đáng giá của nó thì nên mạnh dạn đầu tư. Nếu bạn không có nguồn tài chính sẵn có thì vẫn có thể đi vay người thân, bạn bè, ngân hàng, v.v. để đi học. Tất nhiên nếu phải đi vay thì chí phí học MBA sẽ cao hơn vì phải trả lãi xuất.

    6. Chuẩn bị hồ sơ xin học

    6.1. GPA (grade point average: điểm học đại học)

    Như đã nói ở trên, trường sẽ nhìn vào điểm đại học của bạn để đánh giá sức học của bạn so với bạn bè cùng lứa ở trường của bạn. Nếu bạn xin vào trường mà đã có người đã học ở trường của bạn thì bạn không gặp nhiều rắc rối về bảng điểm. Nhưng nếu rủi là người đó có bảng điểm đẹp nhưng sang đó học không tốt sẽ làm người ta e dè về cái bảng điểm của bạn. Tuy nhiên, nhìn chung mà nói thì người ta không quá quan tâm đến bảng điểm của Việt Nam lắm (mặc dù bạn vẫn phải chứng minh là bạn đã thực sự học xong đại học) mà quan tâm đến các yếu tố khác như nêu ở mục 6.2 - 6.6.
    Bất lợi lớn với sinh viên Việt Nam là nhiều trường không cấp bảng điểm nhiều lần, chất lượng dịch thuật ở nhiều phòng công chứng không tốt, các môn học không tương đồng với các môn sinh viên học ở Mỹ, và hệ thống chấm điểm của Việt Nam rất khác so với Mỹ. Nhiều trường hợp sinh viên Việt Nam xin học MBA ở bị từ chối chỉ vì cái bảng điểm trông không chuyên nghiệp (vì không chuyên nghiệp làm cho người ta nghi ngờ chất lượng đào tạo của trường cấp cái bằng đó) hoặc bị từ chối vì người ta không thể kiểm tra được là trường cấp cái bằng đó có phải là trường được Việt Nam công nhận hay không. Để khắc phục vấn đề này thì bạn nên làm những việc sau:

    - Thuê phiên dịch chuyên nghiệp dịch sẵn và lên layout (trình bày) thật chuẩn. Nếu có điều kiện nên tham khảo cách trình bày bảng điểm của Mỹ hoặc it́ ra cũng nên tham khảo cách trình bày bảng điểm của người đã được trường của Mỹ nhận.
    - Nếu có thể thì khi xin trường chứng nhận vào bảng điểm là bạn đứng thứ bao nhiêu trong khóa học của mình (giống như percentile ở bảng điểm TOEFL và GMAT)
    - Lên văn phòng IIE tại Việt Nam xin một bảng giải thích cách tính điểm và hệ thống giáo dục của Việt Nam.
    - Tiếp theo lên trường xin dấu của trường vào bản dịch. Nếu trường của bạn không đóng dấu vào bản dịch thì lên phòng công chứng xin làm loại công chứng dịch hiệu đính (tức là xin người ta chứng nhận bản dịch của mình là chính xác và vẫn giữ nguyên cách trình bày của mình).
    - Nếu trường của bạn không phải là trường lớn mà nước ngoài đã biết thì lên phòng Quan hệ Quốc tế của Bộ Giáo dục và Đào tạo xin giấy xác nhận là trường của bạn được nationally accredited (nhà nước Việt Nam công nhận).

    6.2. SOP (statement of purpose: thư xin học)
    SOP là một phần rất quan trọng trong bộ hồ sơ của bạn. Trường sẽ nhìn vào đó để đánh giá khả năng thuyết phục của bạn và đoán xem bạn có tố chất cần có để thành công trong ngành bạn định xin học hay không.
    Đi xin học cũng giống như đi bỏ thầu. Chỉ có những nhà thầu biết cách tiếp thị mới trúng thầu được. Nhiều bạn sinh viên Việt Nam thích làm theo mẫu viết sẵn nhưng đây là cách “chào hàng” tồi tệ nhất. Bạn cứ thử hình dung xem một ngày hội đồng tuyển chọn phải đọc hàng trăm cái SOP thì người ta có muốn đọc cái SOP của bạn không nếu như cái SOP của bạn cũng giống như những cái khác? Nếu bạn chỉ muốn làm copy-cat (sao chép lại cái của người khác mà không động não) thì bạn khó có thể thành công trong kinh doanh được.
    Trong kinh doanh, bạn cần phải có điểm gì đó khác lạ hấp dẫn so với các đối thủ cạnh tranh thì mới thu hút được khách hàng. Cũng giống như vậy, SOP của bạn phải thể hiện được là bạn là một người độc lập và có sức cạnh tranh. Bạn có cái mà trường cần và trường có thể cung cấp cho bạn cái bạn muốn. Bạn hãy tìm hiểu thật kỹ về trường mà bạn định xin học xem sinh viên của họ như thế nào và tìm hiểu xem cái mình có (ví dụ như quan hệ, gia đình, am hiểu về thị trường Việt Nam, v.v) có phải là cái người ta cần không. Cái này cũng giống như đi bán hàng thì phải hiểu khách hàng cần gì và muốn gì.
    Khi viết SOP, bạn nên biến nó thành một bài nghị luận (a piece of argument) và chứng tỏ cho người ta thấy là tại sao phải nhận bạn chứ không phải là người khác.

    6.3. LOR (letter of recommendation: thư giới thiệu)
    Người ta xem LOR của bạn để phán đoán xem bạn có khả năng lập quan hệ với ai và mức độ thân cận của mối quan hệ đó như thế nào. Vì thế bạn nên chọn người sẵn sàng bỏ tâm huyết ra để viết tốt về bạn một cách tỷ mỷ. Và người đó nên có uy tín và thành công trong lĩnh vực bạn xin học, đơn giản là vì người trong cuộc có khả năng đánh giá tốt hơn việc liệu bạn có triển vọng thành công trong thị trường việc làm mà bạn chọn (liệt kê ở phần 2.1 – 2.7). Người này không nhất thiết phải là giáo sư của bạn mà có thể là đối tác làm ăn hoặc một chuyên gia trong lĩnh vực mà bạn theo đuổi.

    6.4. Điểm TOEFL (test of English as a foreign language)
    Điểm TOEFL không đóng vai trò quyết định xem bạn có được học bổng hay hỗ trợ tài chính hay không. Điểm TOEFL chỉ chứng minh là bạn có khả năng giao tiếp và học tập bằng tiếng Anh. Nên khi bạn đã đạt ngưỡng trên 250 (tương đương với 600 điểm thi giấy) thì nó không còn quan trọng nữa. Nếu bạn ở ngưỡng 213-250 (tương đương với 550-600 điểm thi giấy) thì bạn sẽ khá vất vả khi theo học. Nếu bạn ở dưới ngưỡng 213 này thì khả năng tiếp thu kiến thức của bạn sẽ bị hạn chế một cách đáng kể vì rào cản ngôn ngữ. Và do đó bạn sẽ chẳng thu lại được mấ̉y từ việc theo học MBA.
    Chính vì tiếng Anh là phương tiện truyền tải kiến thức, nên bạn nên trau dồi vốn tiếng Anh của mình cho thật tốt để tiếp thu được nhiều nhất từ việc đi học này. Đi học là đầu tư (tiền bạc, công sức, và thời gian) cho tương lai nên bạn hãy cố gắng sao thu lại được nhiều lợi nhuận nhất từ khoản đầu tư này.
    Cách học chuẩn bị cho TOEFL thế nào thì tôi sẽ nói cụ thể ở series các bài viết về cách học cho các kỳ thi chuẩn hoá của Mỹ.

    6.5. Điểm GMAT (graduate management admission test)
    GMAT kiểm tra khả năng tính toán, từ vựng và viết lách cần có để có thể theo học các chương trình quản trị kinh doanh. Thông qua kỳ thi này, người ta cũng có thể đánh giá thí sinh về khả năng tập trung làm việc, (bằng việc bắt bạn phải làm bài test trong gần bốn tiếng liên tục), khả năng ra quyết định dứt khoát (đã trả lời câu nào rồi là không thể quay lại để thay đổi câu trả lời), khả năng phân phối qũy thời gian hạn hẹp (bạn chỉ có khoảng dưới hai phút để trả lời mỗi câu hỏi), v.v.

    Dưới đây tôí chỉ giới thiệu về kỳ thi và cách các trường đánh giá thí sinh qua kỳ thi này. Còn cách học chuẩn bị cho GMAT thế nào thì tôi sẽ nói cụ thể ở series các bài viết về cách học cho các kỳ thi chuẩn hoá của Mỹ.

    6.5.1. Nội dung bài thi GMAT

    Mỗi bài thi GMAT sẽ có 3 phần theo thứ tự như sau: 1 tiếng viết 2 bài luận, 75 phút cho bài thi định lượng (quantitative), và 75 phút cho bài thi ngôn ngữ (verbal).

    6.5.1.1.Bài thi viết
    Bài thi viết của GMAT không phải là bài kiểm tra trình độ tiếng Anh như bài thi viết của TOEFL mà nó được thiết kế để kiểm tra khả năng tư duy và khả năng trình bày ý tưởng của bạn bằng tiếng Anh. Bài thi viết gồm 2 phần, mỗi phần làm trong 30 phút.
    Với bài viết phân tích (analysis of an issue), bạn sẽ phải đánh giá một vấn đề từ nhiều khía cạnh và sau đó trình bày quan điểm của bạn về vấn đề đó. Dựa trên phân tích của mình, bạn cần phải đưa ra lập luận cho quan điểm của mình.
    Với phần đánh giá lập luận (analysis of an argument), bạn sẽ phải đánh giá lập luận của người khác xem lập luận đó có chặt chẽ hay không. Bạn sẽ cần phải phân tích các tiền đề mà người đó đưa ra cũng như các giả định mà người đó sử dụng để lập luận để rồi phán xem liệu kết luận của người đó có hợp lý không.

    6.5.1.2.Bài thi định lượng
    Bài thi định lượng có 37 câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra khả năng tìm đáp án (problem-solving) và khả năng đánh giá xem bài toán cần điều kiện gì để giải được (data-sufficiency). Các câu hỏi này đều không khó vì bạn chỉ cần các kiến thức toán học của lớp 9-10 là có thể trả lời được. Nếu bạn có thoải mái thời gian thì chắc là bạn chằng làm sai nhưng cái khó của GMAT là bạn chỉ có 75 phút cho tất cả 37 câu này.

    6.5.1.3.Bài thi ngôn ngữ
    Bài thi ngôn ngữ có 41 câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra khả năng của bạn về chữa câu (sentence-correction), đánh giá lập luận (critical-reasoning), và đọc hiểu (reading-comprehension). Với các câu hỏi về chữa câu (sentence-correction), bạn chỉ việc phân tích xem liệu câu viết có đúng ngữ pháp không và nếu không đúng thì sửa thế nào. Với các câu hỏi về đánh giá lập luận (critical-reasoning), bạn sẽ cần phải phân tích các tiền đề, các giả định, và kết luận của một đoạn văn lập luận ngắn rồi tùy câu hỏi mà bạn phải tìm cách phản bác, ủng hộ, hay suy diễn thêm từ lập luận đó. Với câu hỏi về đọc hiểu (reading-comprehension), bạn sẽ phải đọc một đoạn văn dài khoảng 350 từ để tìm ý chủ đạo, thông tin chi tiết, và thông tin có thể suy diễn được từ đoạn văn đó.

    6.5.2. Các trường đánh giá điểm GMAT của bạn như thế nào?
    Trong 50 năm qua, các trường đại học dùng điểm thi GMAT để giúp họ đánh giá chính xác hơn về các thí sinh. GMAT là phần khách quan nhất vì tất cả các thi sinh đều thi trong điều kiện giống nhau và được đánh giá theo chuẩn chung. Các số liệu thống kê của GMAC (Graduate Management Admission Council) thì điểm GMAT tỷ lệ thuận với điểm số của thí sinh trong năm đầu học MBA
    GMAT được dùng để so sánh trình độ của các thí sinh từ các trường khác nhau. Nếu chỉ nhìn điểm GPA thì người ta không thể so sánh các thí sinh từ các trường khác nhau vì sinh viên được đánh giá là giỏi của trường này có thể chỉ là trung bình, thậm chí trung bình kém, nếu học ở trường khác. Lý do là mỗi trường có chất lượng đào tạo và tiêu chuẩn đánh giá sinh viên rất khác nhau. Nếu mà thí sinh có trình độ thật thì không khó khăn lắm để được điểm GMAT cao. Nói vậy không có nghĩa cứ điểm GMAT cao là học giỏi bởi vì một số người chỉ tập trung vào ôn luyện GMAT mà bỏ bê việc học hành ở trường. Vì thế nên người ta không dùng GMAT như là yếu tố duy nhất để đánh giá thí sinh.
    Bảng báo điểm GMAT có ghi điểm tổng số và điểm của từng phần. Tùy theo ngành học bạn chọn mà người ta chú trọng đến điểm số của phần nào trong số ba phần của GMAT. Nếu bạn chọn học ngành cần nhiều đến tính toán như là finance hay accounting thì đương nhiên bạn cần phải có điểm quantitative tốt trong khi điểm verbal không quá quan trọng. Tương tự, nếu bạn muốn học ngành cần diễn giải nhiều như là human resource mangement thì đương nhiên bạn cần có điểm verbal tốt trong khi điểm quantitative không quan trọng lắm. Ngoài ra người ta còn nhìn vào điểm phần viết như là dấu hiệu cho thấy thí sinh có thực sự viết SOP của họ hay không. Lý do là vì có quá nhiều công ty dịch vụ chuyên sửa chữa và thậm chí viết hộ SOP. Do vậy nếu mà bạn có SOP viết rất tốt mà điểm bài viết của GMAT kém thì người ta sẽ không tin rằng bạn là người thực sự viết SOP của bạn.
    Vậy điểm GMAT bao nhiêu là tốt? Cai đó tuỳ theo trường mà bạn định xin. Bạn nên tìm hiểu xem các sinh viên trường bạn định xin thường có điểm GMAT là bao nhiêu. Để biết thông tin này thì bạn xem phần admission requirement hoặc FAQ hoặc student profile trên trang web của trường.

    6.6. Interview (phỏng vấn)
    Tùy ngành và trường bạn xin học mà bạn sẽ phải trải qua cuộc phỏng vấn hay không. Nếu bạn muốn theo học ngành phải nói nhiều như là marketing (và đặc biệt là khi bạn xin làm teaching assistant) thì trường sẽ phỏng vấn bạn. Khi trường đã quyết định phỏng vấn bạn thì tức là đến 80% là muốn nhận bạn. Ngoài ra khi trường đang cân nhắc giữa bạn và thí sinh khác có hồ sơ tốt tương đương với hồ sơ của bạn thì trường sẽ dựa vài kết quả cuộc phỏng vấn bạn và những thi sinh đó để quyết định xem nhận ai và loại ai. Các câu hỏi trong cuộc phỏng vấn thường xoay quanh các vấn đề như tại sao bạn lại chọn ngành mà bạn chọn, tại sao bạn muống học trường của họ, tại sao bạn lại chọn lúc này để đi học chứ không phải là sớm hơn hay muộn hơn, bạn mong đợi gì từ khoá học, và kế hoạch tương lai của bạn là gì khi học xong MBA, v.v.

    Thai Thi Thanh Mai
     
    Last edited: Nov 6, 2007
  2. hienpt

    hienpt Member MBA Family

    Joined:
    Sep 28, 2006
    Messages:
    588
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Current city/country:
    Fullerton, CA
    Current employer/school:
    ANR Industries
    Undergrad major:
    Intl' Business
    MBA (intent) major/School:
    Finance
Thread Status:
Not open for further replies.

Share This Page